[color=indigo:937ee6b9d0][size=18:937ee6b9d0]Anna Akhmatova -Bà chúa thơ tình [/size][/color]
Đào Tuấn Ảnh
Akhmatova (1889-1996) là nhà thơ viết về nhiều đề tài, song dù có viết về đề tài gì thì tình yêu luôn là những đốm sáng lấp lánh trong từng câu thơ của bà. Akhmatova được tôn vinh là “bà chúa thơ tình” trong thơ Nga thế kỷ XX.
http://www.somebuddy.ca/goodwomen/mostwanted/images/anna_a_250.jpg
[...]Chuyên san Thơ số 5 tháng 11-2003 đăng bài Akhmatova kể về Blok, trong đó có đoạn hai nhà thơ tình cờ gặp nhau trên một buổi dạ hội. Trước lúc Akhmatova lên phát biểu và đọc thơ Blok đã khuyên bà đọc bài “Chúng ta là lũ anh hùng rơm”. Akhmatova từ chối với lý do trong bài thơ có những chi tiết quá “văn xuôi”, “đời thường”. Bà nói với Blok: “Đọc đến câu “Tôi mặc váy bó”, người ta cười chết”. Blok “trấn an” bà, trả lời: “Khi tôi đọc câu “Và kẻ nát rượu với đôi mắt cá chày” người ta cũng cười tôi đấy thôi”…
Người đọc dễ bỏ qua chi tiết này nếu không biết xuất xứ của bài thơ, tên gọi chính xác, cũng như không được đọc toàn bộ bài thơ đó. Đây là một trong những bài thơ của Akhmatova được nhiều người đương thời rất thích, bản thân Blok, như chúng ta thấy, cũng thuộc lòng nó. Bài thơ thể hiện nét độc đáo trong phong cách thơ Akhmatova nói chung và thơ tình của bà nói riêng, đó là sự hoà hợp tuyệt diệu những yếu tố dường như không thể kết hợp được trong thơ: tính trữ tình xen lẫn tính sử thi, chất thơ được chiết từ những chi tiết, tình huống cụ thể của đời thường, những tính cách tâm lý tinh tế, sâu sắc, sự biến đổi kỳ ảo từ nhân vật kể chuyện sang nhân vật trữ tình và ngược lại… Đây là một trong nhiều bài thơ của Akhmatova giống như cảnh kịch, trong đó, trên nền sự kiện chung, diễn ra tình huống kịch, hành động kịch, những đối thoại ngầm giữa các nhân vật xen lẫn độc thoại nội tâm của người kể chuyện hay nhân vật trữ tình.
Chúng ta hãy đọc bài thơ có đầu đề rất ngộ Quán chó hoang, mà Blok nói tới.
Tất cả chúng ta - lũ say mèm, phóng đãng
Tụ tập nơi này nào vui thú gì đâu!
Trên tường kia hoa và chim lử lả
Dưới đám mây phiêu lãng nát nhàu.
Anh ngậm chiếc tẩu đen lặng thinh
Trên tẩu thuốc khói vẽ hình kỳ quặc.
Chiếc váy bó sát người em mặc
Muốn tôn thêm vẻ kiều diễm thân hình.
Ô cửa sổ từ lâu rồi khép chặt:
ở đằng kia giông bão, giá băng?
Cặp mắt anh - mắt chú mèo hoang
Rất cẩn trọng, so đo và tính toán
Ôi, trái tim em sao buồn tới vậy
Phải chăng giờ chết đã tới gần?
Còn cô ấy say sưa trong điệu nhảy
Có biết rằng địa ngục ở dưới chân?
(Đào Tuấn ảnh dịch)
Bài thơ này có xuất xứ như sau: Vào những năm 1912-1915 ở Peterburg có một quán rượu tên là “Quán Chó hoang” rất nổi tiếng vì là nơi giao du của giới văn nghệ sĩ. Các hoạ sĩ thời thượng vẽ tranh trên khắp các bức tường, những bức tranh phong cảnh Nga với những cánh rừng, cây cối, chim chóc và những đám mây theo phong cách hiện đại chủ nghĩa. Các nhà văn, nhà thơ thuộc đủ các trường phái, các nhạc sĩ, ca sĩ đọc và biểu diễn những tác phẩm của mình ở đó. Những buổi “sinh hoạt văn học nghệ thuật” như vậy diễn ra hàng đêm. Có một lần Akhmatova đọc thơ của mình trong quán đó. Sau này bà lấy tên Quán chó hoang làm đầu đề cho bài thơ.
Trong bài thơ Akhmatova đã sử dụng những hình tượng, cụm từ, câu và ý đối chọi để mô tả một không gian căng thẳng đầy kịch tính: khung cảnh ồn ào của quán rượu, không khí bị nén chặt của đêm trước thế chiến và sự im lặng của cặp trai gái. Thật ra họ không im lặng mà đang đối thoại ngầm với nhau, đúng hơn, chỉ có nhân vật nữ “nói”, trách cứ, giãi bày nỗi đau khổ vì tình yêu sắp mất, sự ghen tuông, ngờ vực đang cấu xé, hành hạ nàng. Còn chàng thì im lặng đốt thuốc. Khói thuốc vẽ những hình thù kỳ quặc, khó hiểu, cũng giống như những tâm trạng khó hiểu mà chàng đã thôi không chia sẻ cùng nàng. Người đàn bà cảm nhận được tình yêu nơi người đàn ông đã hết. Để vớt vát tình thế, nàng cố tình “diện” chiếc váy bó sát để tôn thêm vẻ kiều diễm của thân hình, hòng mong chàng vì thế mà quay lại. Một hy vọng mỏng manh. Một chi tiết rất đàn bà! Nhưng mà sao? Người đàn ông đâu có để ý, tâm hồn anh ta, giống như khuôn cửa sổ nhỏ, đã vĩnh viễn khép chặt trước nàng. Thật ra thì anh ta, giống như chú mèo hoang cẩn trọng, đang cố lựa lời “giải thích”, tìm cách “ra đi” cho yên ổn - ra đi theo kiểu đàn ông. Nàng thì như kẻ sắp chết. Còn cô gái kia (nhân vật thứ ba) - “đối tượng” mới của chàng Don Joan, đang hoan hỉ, vui vẻ nhảy nhót, đâu có biết anh ta chính là cái địa ngục mà cô, giống như người đàn bà đang đau khổ này, sắp sửa rơi vào (lại đối chọi “vui vẻ, nhảy nhót” với “địa ngục”).
Nét độc đáo trong nghệ thuật miêu tả tâm lý, tính cách của thi pháp Akhmatova đã được thể hiện ngay từ những bài thơ đầu tiên của bà. Bài ca về cuộc gặp gỡ cuối cùng đã làm độc giả sửng sốt bởi những ngụ ý, liên tưởng, những chi tiết vô cùng nhỏ nhặt lại chứa đầy ý tứ, truyền đạt một cách tinh tế, chính xác diễn biến tâm lý của nhân vật:
Ngực buốt lạnh vô phương cứu chữa,
Chân bước đi vẫn cứ nhẹ không.
Bàn tay em mải miết đeo găng
Tay bên phải xỏ nhầm găng tay trái
(Bài ca về cuộc gặp cuối cùng, Đào Tuấn ảnh dịch)
Một chi tiết rất Akhmatova - người đàn bà “xăm xăm băng lối” tới cuộc hẹn, hồi hộp, bối rối tới mức tay xỏ nhầm găng! Còn gì thuyết phục hơn khi miêu tả tâm trạng bấn loạn vì tình như thế! Svetaeva viết rằng chỉ bằng chi tiết: “Tay bên phải xỏ nhầm găng tay trái” Akhmatova, lúc đó còn rất trẻ, đã lột tả được trạng thái tâm lý, tình cảm của người đàn bà đang yêu, sự bấn loạn trữ tình, - toàn bộ kinh nghiệm! - Chỉ bằng một nét chấm phá ấy thôi bà đã lưu danh muôn thuở cái hành động có từ ngàn xưa nơi người phụ nữ, nơi nhà thơ, những con người trong những thời khắc trọng đại của cuộc đời thường quên mất đâu là bên trái, đâu là bên phải - không chỉ có găng tay, mà là cả thế giới, những con người bỗng nhiên đánh mất mọi tự tin nơi mình.
http://www.odessaglobe.com/russian/people/akhmatova.gif
Bằng những chi tiết cụ thể, cực kỳ chuẩn xác, một điều gì đó còn lớn lao hơn một tâm trạng đã được khẳng định và tượng trưng hoá, - đó là một tâm hồn chân thực, toàn vẹn. Tình yêu trong thơ Akhmatova không phải chỉ là dục vọng đam mê, là sự gần gũi, mà nhất thiết và trên hết phải là sự thăng hoa của tâm hồn, là mối liên hệ tinh thần giữa hai con người. Khi điều đó không xảy ra nữa thì tình yêu chỉ còn là nỗi bất hạnh đáng nguyền rủa, nó tước mất những suy nghĩ trong sạch, tách con người ra khỏi vũ trụ, nhấn chìm nó trong thế giới u ám của địa ngục:
Và trái tim ấy thôi đồng vọng
Với giọng nói em, vui sướng, u buồn
Hết cả rồi… Thơ về đêm trống,
Nơi muôn năm anh đã không còn
(Hồng Thanh Quang dịch)
Nếu tình yêu trong thơ Svetaeva luôn gắn với hình tượng dông bão, hoả diệm sơn, biển động, thì người đàn bà yêu và được yêu trong thơ Akhmatova cùng lắm cũng chỉ chân thành thỏ thẻ: “Em phát điên, chàng trai lạ lùng ơi...” và trạng thái thăng hoa của tình yêu được diễn tả bằng câu nói giản dị: “Nhìn xem này! Trên ngón út của em/ Chiếc nhẫn nhỏ xinh mượt mà óng ả” (Những bài thơ trong tập Chuỗi tràng hạt).
Tình yêu dung dị đó lại là một thứ tình yêu không gì chế ngự nổi: không “nhiệm vụ”, không “hoàn cảnh”, một thứ tình yêu không chút vị kỷ, tính toán, so đo, một tình yêu giàu có, thảo rộng bởi nó là nhu cầu tự nhiên của tâm hồn, một tâm hồn không thể yêu cách nào khác ngoài tự nguyện và dâng hiến.
Đối với Akhmatova tình yêu - đó là hiện tượng tự nhiên của tự do tinh thần. Điều đó được tuyên bố ngạo nghễ:
Vinh quang trần gian như khói sương
Tôi đâu đòi hỏi cho mình
Chỉ có hạnh phúc tôi mang lại
Cho người yêu, cho tất cả những người tình
Và vang lên như một tín điều:
Mùa thứ năm trong năm,
Là lời anh tán tụng
Hãy thở thứ Tự do cuối cùng
Bởi đó là tình yêu (Đào Tuấn ảnh dịch)
Mỗi nhà thơ đều cố gắng đưa ra “tuyên ngôn”, “định nghĩa” của mình về tình yêu. Đối với Akhmatova tình yêu - đó là Tự do cuối cùng, tức Tự do tối cao. Khi yêu thực sự con người được ban cho thứ ân sủng đó.
Tình yêu trong thơ Akhmatova - tình yêu của những đòi hỏi tinh thần cao, là lĩnh vực của tự do tối thượng và là niềm vui sướng, khả năng dâng hiến toàn vẹn của trái tim - tình yêu ấy đồng thời cũng là bi kịch. Bởi nó không được chia xẻ: khi “rơi” vào tình yêu, người thì không tiếp nhận nổi - “Đến dịu dàng anh cũng không đòi hỏi”, người thì, điều này còn cay đắng hơn, chỉ cần một chút, một vài mảnh vụn của nó - “Chén tình không uống cạn/ Chỉ nhấp môi gọi là…”.
Song tình yêu bi kịch trong thơ Akhmatova còn gần và cần cho con người hơn những thứ tình yêu “thành công”, viên mãn thường gặp trong thơ đương thời. Là bởi bi kịch trong thơ Akhmatova tạo ra một nguồn tình cảm vô tận, giấu trong nó khát vọng hướng tới tận thiện, tận mỹ. Chất bi kịch này làm tăng vẻ đẹp và sức mạnh tình cảm, khả năng bất diệt của nó - đó là sự vận động. Blok nói: “Từ đau khổ tới vui sướng là con đường thẳng, từ buồn chán tới vui sướng chẳng có con đường nào”. Loại thơ tình yêu thành đạt hạn chế tình cảm, làm nó nghèo đi bởi sự tự thoả mãn. Mà thật ra sự thành đạt nói chung không bao giờ có thể là đối tượng của thơ - vì thành đạt luôn đồng nghĩa với bất động, đứng yên. Tình yêu trong thơ Akhmatova không thành đạt, song không có nghĩa là không hạnh phúc. Chỉ cần một khả năng biết hy sinh vì tình yêu, một tình yêu không cần đền đáp, không tính toán, một tình yêu khó khăn và đau đớn - “đến tận cùng đau đớn, đến tình yêu” - chỉ cần một khả năng đó của trái tim đủ để có một hạnh phúc thực sự. Và người đọc biết ơn tình yêu đó, thứ tình yêu nuôi dưỡng tình cảm của họ, không trói buộc họ bởi bất cứ công thức nào…
Anh cấm em hát, cấm em cười
Còn cầu nguyện từ lâu anh đã cấm
Gì cũng được, miễn chúng mình bên nhau
Mọi thứ còn lại em chẳng tính vào đâu
(Đào Tuấn ảnh dịch)
Eikhenbaoum, nhà phê bình hình thức nổi tiếng của Nga, nhận xét, Akhmatova - một thi sĩ cảm nhận cuộc sống cá nhân mình như cuộc sống lịch sử, cuộc sống dân tộc. Tình yêu trong thơ bà không bao giờ tách biệt khỏi những gì diễn ra ở cuộc sống xung quanh, nó hoà quyện tinh tế với những bộ phận khác trong một chỉnh thể hữu cơ. Trong bài Quán chó hoang chỉ qua bốn câu thơ mở đầu mô tả quang cảnh quán rượu người đọc đã cảm nhận đầy đủ không khí của thời đại. Chính vì vậy mà nó thật hoà hợp với tâm trạng, tình huống đầy kịch tính cụ thể, riêng tư ở phía dưới. Chỉ cần một thuật ngữ, một khái niệm nào đó về chính trị, xã hội lọt vào thì cảm kịch phía dưới sẽ biến mất, hoặc nếu còn, thì cũng sẽ diễn ra thật gượng gạo, không còn cái logic đặc biệt của nghệ thuật đòi hỏi cảm bằng trái tim, tâm hồn, hơn hiểu bằng đầu óc, lý trí. Trên cái nền như vậy biên độ xúc cảm trong thơ tình Akhmatova rất rộng và cực kỳ phong phú, từ những bài thơ khóc chồng, nhà thơ lớn Gumiliev bị sát hại đến những bài thơ về đứa con duy nhất bị tù đầy (Hai mười bảy tháng ròng tôi khóc…) đến những bài thơ về Mandelstam hay Maiakovski, trong đó khó phân biệt đâu là tình yêu nam nữ, đâu là tình bạn, sự ngưỡng mộ của một tài năng trước những tài năng. Aleksandr Blok đối với Akhmatova vĩnh viễn là một thần tượng. Khi chết thi sĩ thiên tài đã hoá thánh trong thơ bà:
Và trào tuôn những bài hát cầu hồn
Không thê lương mà ngân vang trong trẻo
Còn nghĩa địa - sơn ca khu rừng nhỏ
Lặng chìm trong ánh sáng mặt trời.
(Và từ đây Smolensk mang tên thánh… Đào Tuấn ảnh dịch)
Thơ tình yêu là một bộ phận “máu thịt” trong toàn bộ sáng tác của Akhmatova. Và giống như một trong những bộ phận làm nên cơ thể sống, nó sẽ chết nếu bị tách lìa khỏi cơ thể ấy. Tình yêu trong thơ Akhmatova sẽ không còn, nếu tách nó khỏi tình yêu với nước Nga, thiên nhiên Nga, nhân dân Nga. Tình yêu này đã giúp bà sống trọn một đời thơ dài. Hai bài thơ rung động lòng người được viết ra lúc bà khó sống nhất: Người ta nghĩ chúng mình nghèo lắm… và Cầu nguyện, trong đó nước Nga là tình yêu lớn nhất của bà. Nước Nga đối với Akhmatova, cũng như Tự do đối với Petopi, vì sự sống còn của nó bà sẵn sàng hiến dâng tất cả, không chỉ những người mình yêu mà còn cả tài thơ của mình nữa:
Cứ để tôi sống những năm dài đói khổ
Cứ ngạt thở, mất ngủ, sốt cao
Cứ việc lấy đi đứa con và tình yêu
Cùng tài thơ mà trời đã phú
Trong Thánh lễ tôi khẩn cầu như thế,
Sau bao ngày khốn khổ đoạ đầy,
Để mây đen trên nước Nga đau khổ
Tan đi trong ánh sáng ban ngày.
(Cầu nguyện - Đào Tuấn ảnh dịch)
Cũng như nhiều nhà văn, nhà thơ tài năng khác, Akhmatova sợ người đời sau này sẽ không hiểu cuộc đời mình, không hiểu thơ mình, chính vì vậy sẽ quên lãng nó. Ngay từ năm 1913, dự cảm về số phận vinh quang đầy cay đắng sẽ dành cho mình, bà đã viết những dòng thơ này để minh chứng cho tấm lòng mình, để hậu thế phán xét:
Và em đứng đây - lạy Chúa lòng lành!-
Trên lớp phủ băng mỏng manh, dễ vỡ
Còn anh, những bức thư của em xin hãy giữ,
Cho thế hệ mai sau phán xét chúng mình.
……..
Ôi, nước uống trần gian sao ngọt quá,
Lưới tình trần gian sao dệt quá dày.
Hãy để cho tên em một khi nào đó
Lũ trẻ sẽ đọc lên trong sách lúc học bài.
(Tạ Phương dịch)
Đúng như dự cảm của nhà thơ, ngày hôm nay trường học đã giảng dạy thơ của bà cho học sinh. Thế hệ thế kỷ XXI, thế hệ của máy vi tính và quảng cáo, vẫn đọc, hiểu và yêu thơ bà, biết ơn bà - người gìn giữ, truyền lại cho họ những điều tốt đẹp nhất trong văn hoá Nga.[...]
Bài viết này trích trong "Một thế kỷ thơ Anna Akhmatova" của Đào Tuấn Ảnh, đăng trên tạp chí Nghiên Cứu Văn Học số 2/2004
Đào Tuấn Ảnh
Akhmatova (1889-1996) là nhà thơ viết về nhiều đề tài, song dù có viết về đề tài gì thì tình yêu luôn là những đốm sáng lấp lánh trong từng câu thơ của bà. Akhmatova được tôn vinh là “bà chúa thơ tình” trong thơ Nga thế kỷ XX.
http://www.somebuddy.ca/goodwomen/mostwanted/images/anna_a_250.jpg
[...]Chuyên san Thơ số 5 tháng 11-2003 đăng bài Akhmatova kể về Blok, trong đó có đoạn hai nhà thơ tình cờ gặp nhau trên một buổi dạ hội. Trước lúc Akhmatova lên phát biểu và đọc thơ Blok đã khuyên bà đọc bài “Chúng ta là lũ anh hùng rơm”. Akhmatova từ chối với lý do trong bài thơ có những chi tiết quá “văn xuôi”, “đời thường”. Bà nói với Blok: “Đọc đến câu “Tôi mặc váy bó”, người ta cười chết”. Blok “trấn an” bà, trả lời: “Khi tôi đọc câu “Và kẻ nát rượu với đôi mắt cá chày” người ta cũng cười tôi đấy thôi”…
Người đọc dễ bỏ qua chi tiết này nếu không biết xuất xứ của bài thơ, tên gọi chính xác, cũng như không được đọc toàn bộ bài thơ đó. Đây là một trong những bài thơ của Akhmatova được nhiều người đương thời rất thích, bản thân Blok, như chúng ta thấy, cũng thuộc lòng nó. Bài thơ thể hiện nét độc đáo trong phong cách thơ Akhmatova nói chung và thơ tình của bà nói riêng, đó là sự hoà hợp tuyệt diệu những yếu tố dường như không thể kết hợp được trong thơ: tính trữ tình xen lẫn tính sử thi, chất thơ được chiết từ những chi tiết, tình huống cụ thể của đời thường, những tính cách tâm lý tinh tế, sâu sắc, sự biến đổi kỳ ảo từ nhân vật kể chuyện sang nhân vật trữ tình và ngược lại… Đây là một trong nhiều bài thơ của Akhmatova giống như cảnh kịch, trong đó, trên nền sự kiện chung, diễn ra tình huống kịch, hành động kịch, những đối thoại ngầm giữa các nhân vật xen lẫn độc thoại nội tâm của người kể chuyện hay nhân vật trữ tình.
Chúng ta hãy đọc bài thơ có đầu đề rất ngộ Quán chó hoang, mà Blok nói tới.
Tất cả chúng ta - lũ say mèm, phóng đãng
Tụ tập nơi này nào vui thú gì đâu!
Trên tường kia hoa và chim lử lả
Dưới đám mây phiêu lãng nát nhàu.
Anh ngậm chiếc tẩu đen lặng thinh
Trên tẩu thuốc khói vẽ hình kỳ quặc.
Chiếc váy bó sát người em mặc
Muốn tôn thêm vẻ kiều diễm thân hình.
Ô cửa sổ từ lâu rồi khép chặt:
ở đằng kia giông bão, giá băng?
Cặp mắt anh - mắt chú mèo hoang
Rất cẩn trọng, so đo và tính toán
Ôi, trái tim em sao buồn tới vậy
Phải chăng giờ chết đã tới gần?
Còn cô ấy say sưa trong điệu nhảy
Có biết rằng địa ngục ở dưới chân?
(Đào Tuấn ảnh dịch)
Bài thơ này có xuất xứ như sau: Vào những năm 1912-1915 ở Peterburg có một quán rượu tên là “Quán Chó hoang” rất nổi tiếng vì là nơi giao du của giới văn nghệ sĩ. Các hoạ sĩ thời thượng vẽ tranh trên khắp các bức tường, những bức tranh phong cảnh Nga với những cánh rừng, cây cối, chim chóc và những đám mây theo phong cách hiện đại chủ nghĩa. Các nhà văn, nhà thơ thuộc đủ các trường phái, các nhạc sĩ, ca sĩ đọc và biểu diễn những tác phẩm của mình ở đó. Những buổi “sinh hoạt văn học nghệ thuật” như vậy diễn ra hàng đêm. Có một lần Akhmatova đọc thơ của mình trong quán đó. Sau này bà lấy tên Quán chó hoang làm đầu đề cho bài thơ.
Trong bài thơ Akhmatova đã sử dụng những hình tượng, cụm từ, câu và ý đối chọi để mô tả một không gian căng thẳng đầy kịch tính: khung cảnh ồn ào của quán rượu, không khí bị nén chặt của đêm trước thế chiến và sự im lặng của cặp trai gái. Thật ra họ không im lặng mà đang đối thoại ngầm với nhau, đúng hơn, chỉ có nhân vật nữ “nói”, trách cứ, giãi bày nỗi đau khổ vì tình yêu sắp mất, sự ghen tuông, ngờ vực đang cấu xé, hành hạ nàng. Còn chàng thì im lặng đốt thuốc. Khói thuốc vẽ những hình thù kỳ quặc, khó hiểu, cũng giống như những tâm trạng khó hiểu mà chàng đã thôi không chia sẻ cùng nàng. Người đàn bà cảm nhận được tình yêu nơi người đàn ông đã hết. Để vớt vát tình thế, nàng cố tình “diện” chiếc váy bó sát để tôn thêm vẻ kiều diễm của thân hình, hòng mong chàng vì thế mà quay lại. Một hy vọng mỏng manh. Một chi tiết rất đàn bà! Nhưng mà sao? Người đàn ông đâu có để ý, tâm hồn anh ta, giống như khuôn cửa sổ nhỏ, đã vĩnh viễn khép chặt trước nàng. Thật ra thì anh ta, giống như chú mèo hoang cẩn trọng, đang cố lựa lời “giải thích”, tìm cách “ra đi” cho yên ổn - ra đi theo kiểu đàn ông. Nàng thì như kẻ sắp chết. Còn cô gái kia (nhân vật thứ ba) - “đối tượng” mới của chàng Don Joan, đang hoan hỉ, vui vẻ nhảy nhót, đâu có biết anh ta chính là cái địa ngục mà cô, giống như người đàn bà đang đau khổ này, sắp sửa rơi vào (lại đối chọi “vui vẻ, nhảy nhót” với “địa ngục”).
Nét độc đáo trong nghệ thuật miêu tả tâm lý, tính cách của thi pháp Akhmatova đã được thể hiện ngay từ những bài thơ đầu tiên của bà. Bài ca về cuộc gặp gỡ cuối cùng đã làm độc giả sửng sốt bởi những ngụ ý, liên tưởng, những chi tiết vô cùng nhỏ nhặt lại chứa đầy ý tứ, truyền đạt một cách tinh tế, chính xác diễn biến tâm lý của nhân vật:
Ngực buốt lạnh vô phương cứu chữa,
Chân bước đi vẫn cứ nhẹ không.
Bàn tay em mải miết đeo găng
Tay bên phải xỏ nhầm găng tay trái
(Bài ca về cuộc gặp cuối cùng, Đào Tuấn ảnh dịch)
Một chi tiết rất Akhmatova - người đàn bà “xăm xăm băng lối” tới cuộc hẹn, hồi hộp, bối rối tới mức tay xỏ nhầm găng! Còn gì thuyết phục hơn khi miêu tả tâm trạng bấn loạn vì tình như thế! Svetaeva viết rằng chỉ bằng chi tiết: “Tay bên phải xỏ nhầm găng tay trái” Akhmatova, lúc đó còn rất trẻ, đã lột tả được trạng thái tâm lý, tình cảm của người đàn bà đang yêu, sự bấn loạn trữ tình, - toàn bộ kinh nghiệm! - Chỉ bằng một nét chấm phá ấy thôi bà đã lưu danh muôn thuở cái hành động có từ ngàn xưa nơi người phụ nữ, nơi nhà thơ, những con người trong những thời khắc trọng đại của cuộc đời thường quên mất đâu là bên trái, đâu là bên phải - không chỉ có găng tay, mà là cả thế giới, những con người bỗng nhiên đánh mất mọi tự tin nơi mình.
http://www.odessaglobe.com/russian/people/akhmatova.gif
Bằng những chi tiết cụ thể, cực kỳ chuẩn xác, một điều gì đó còn lớn lao hơn một tâm trạng đã được khẳng định và tượng trưng hoá, - đó là một tâm hồn chân thực, toàn vẹn. Tình yêu trong thơ Akhmatova không phải chỉ là dục vọng đam mê, là sự gần gũi, mà nhất thiết và trên hết phải là sự thăng hoa của tâm hồn, là mối liên hệ tinh thần giữa hai con người. Khi điều đó không xảy ra nữa thì tình yêu chỉ còn là nỗi bất hạnh đáng nguyền rủa, nó tước mất những suy nghĩ trong sạch, tách con người ra khỏi vũ trụ, nhấn chìm nó trong thế giới u ám của địa ngục:
Và trái tim ấy thôi đồng vọng
Với giọng nói em, vui sướng, u buồn
Hết cả rồi… Thơ về đêm trống,
Nơi muôn năm anh đã không còn
(Hồng Thanh Quang dịch)
Nếu tình yêu trong thơ Svetaeva luôn gắn với hình tượng dông bão, hoả diệm sơn, biển động, thì người đàn bà yêu và được yêu trong thơ Akhmatova cùng lắm cũng chỉ chân thành thỏ thẻ: “Em phát điên, chàng trai lạ lùng ơi...” và trạng thái thăng hoa của tình yêu được diễn tả bằng câu nói giản dị: “Nhìn xem này! Trên ngón út của em/ Chiếc nhẫn nhỏ xinh mượt mà óng ả” (Những bài thơ trong tập Chuỗi tràng hạt).
Tình yêu dung dị đó lại là một thứ tình yêu không gì chế ngự nổi: không “nhiệm vụ”, không “hoàn cảnh”, một thứ tình yêu không chút vị kỷ, tính toán, so đo, một tình yêu giàu có, thảo rộng bởi nó là nhu cầu tự nhiên của tâm hồn, một tâm hồn không thể yêu cách nào khác ngoài tự nguyện và dâng hiến.
Đối với Akhmatova tình yêu - đó là hiện tượng tự nhiên của tự do tinh thần. Điều đó được tuyên bố ngạo nghễ:
Vinh quang trần gian như khói sương
Tôi đâu đòi hỏi cho mình
Chỉ có hạnh phúc tôi mang lại
Cho người yêu, cho tất cả những người tình
Và vang lên như một tín điều:
Mùa thứ năm trong năm,
Là lời anh tán tụng
Hãy thở thứ Tự do cuối cùng
Bởi đó là tình yêu (Đào Tuấn ảnh dịch)
Mỗi nhà thơ đều cố gắng đưa ra “tuyên ngôn”, “định nghĩa” của mình về tình yêu. Đối với Akhmatova tình yêu - đó là Tự do cuối cùng, tức Tự do tối cao. Khi yêu thực sự con người được ban cho thứ ân sủng đó.
Tình yêu trong thơ Akhmatova - tình yêu của những đòi hỏi tinh thần cao, là lĩnh vực của tự do tối thượng và là niềm vui sướng, khả năng dâng hiến toàn vẹn của trái tim - tình yêu ấy đồng thời cũng là bi kịch. Bởi nó không được chia xẻ: khi “rơi” vào tình yêu, người thì không tiếp nhận nổi - “Đến dịu dàng anh cũng không đòi hỏi”, người thì, điều này còn cay đắng hơn, chỉ cần một chút, một vài mảnh vụn của nó - “Chén tình không uống cạn/ Chỉ nhấp môi gọi là…”.
Song tình yêu bi kịch trong thơ Akhmatova còn gần và cần cho con người hơn những thứ tình yêu “thành công”, viên mãn thường gặp trong thơ đương thời. Là bởi bi kịch trong thơ Akhmatova tạo ra một nguồn tình cảm vô tận, giấu trong nó khát vọng hướng tới tận thiện, tận mỹ. Chất bi kịch này làm tăng vẻ đẹp và sức mạnh tình cảm, khả năng bất diệt của nó - đó là sự vận động. Blok nói: “Từ đau khổ tới vui sướng là con đường thẳng, từ buồn chán tới vui sướng chẳng có con đường nào”. Loại thơ tình yêu thành đạt hạn chế tình cảm, làm nó nghèo đi bởi sự tự thoả mãn. Mà thật ra sự thành đạt nói chung không bao giờ có thể là đối tượng của thơ - vì thành đạt luôn đồng nghĩa với bất động, đứng yên. Tình yêu trong thơ Akhmatova không thành đạt, song không có nghĩa là không hạnh phúc. Chỉ cần một khả năng biết hy sinh vì tình yêu, một tình yêu không cần đền đáp, không tính toán, một tình yêu khó khăn và đau đớn - “đến tận cùng đau đớn, đến tình yêu” - chỉ cần một khả năng đó của trái tim đủ để có một hạnh phúc thực sự. Và người đọc biết ơn tình yêu đó, thứ tình yêu nuôi dưỡng tình cảm của họ, không trói buộc họ bởi bất cứ công thức nào…
Anh cấm em hát, cấm em cười
Còn cầu nguyện từ lâu anh đã cấm
Gì cũng được, miễn chúng mình bên nhau
Mọi thứ còn lại em chẳng tính vào đâu
(Đào Tuấn ảnh dịch)
Eikhenbaoum, nhà phê bình hình thức nổi tiếng của Nga, nhận xét, Akhmatova - một thi sĩ cảm nhận cuộc sống cá nhân mình như cuộc sống lịch sử, cuộc sống dân tộc. Tình yêu trong thơ bà không bao giờ tách biệt khỏi những gì diễn ra ở cuộc sống xung quanh, nó hoà quyện tinh tế với những bộ phận khác trong một chỉnh thể hữu cơ. Trong bài Quán chó hoang chỉ qua bốn câu thơ mở đầu mô tả quang cảnh quán rượu người đọc đã cảm nhận đầy đủ không khí của thời đại. Chính vì vậy mà nó thật hoà hợp với tâm trạng, tình huống đầy kịch tính cụ thể, riêng tư ở phía dưới. Chỉ cần một thuật ngữ, một khái niệm nào đó về chính trị, xã hội lọt vào thì cảm kịch phía dưới sẽ biến mất, hoặc nếu còn, thì cũng sẽ diễn ra thật gượng gạo, không còn cái logic đặc biệt của nghệ thuật đòi hỏi cảm bằng trái tim, tâm hồn, hơn hiểu bằng đầu óc, lý trí. Trên cái nền như vậy biên độ xúc cảm trong thơ tình Akhmatova rất rộng và cực kỳ phong phú, từ những bài thơ khóc chồng, nhà thơ lớn Gumiliev bị sát hại đến những bài thơ về đứa con duy nhất bị tù đầy (Hai mười bảy tháng ròng tôi khóc…) đến những bài thơ về Mandelstam hay Maiakovski, trong đó khó phân biệt đâu là tình yêu nam nữ, đâu là tình bạn, sự ngưỡng mộ của một tài năng trước những tài năng. Aleksandr Blok đối với Akhmatova vĩnh viễn là một thần tượng. Khi chết thi sĩ thiên tài đã hoá thánh trong thơ bà:
Và trào tuôn những bài hát cầu hồn
Không thê lương mà ngân vang trong trẻo
Còn nghĩa địa - sơn ca khu rừng nhỏ
Lặng chìm trong ánh sáng mặt trời.
(Và từ đây Smolensk mang tên thánh… Đào Tuấn ảnh dịch)
Thơ tình yêu là một bộ phận “máu thịt” trong toàn bộ sáng tác của Akhmatova. Và giống như một trong những bộ phận làm nên cơ thể sống, nó sẽ chết nếu bị tách lìa khỏi cơ thể ấy. Tình yêu trong thơ Akhmatova sẽ không còn, nếu tách nó khỏi tình yêu với nước Nga, thiên nhiên Nga, nhân dân Nga. Tình yêu này đã giúp bà sống trọn một đời thơ dài. Hai bài thơ rung động lòng người được viết ra lúc bà khó sống nhất: Người ta nghĩ chúng mình nghèo lắm… và Cầu nguyện, trong đó nước Nga là tình yêu lớn nhất của bà. Nước Nga đối với Akhmatova, cũng như Tự do đối với Petopi, vì sự sống còn của nó bà sẵn sàng hiến dâng tất cả, không chỉ những người mình yêu mà còn cả tài thơ của mình nữa:
Cứ để tôi sống những năm dài đói khổ
Cứ ngạt thở, mất ngủ, sốt cao
Cứ việc lấy đi đứa con và tình yêu
Cùng tài thơ mà trời đã phú
Trong Thánh lễ tôi khẩn cầu như thế,
Sau bao ngày khốn khổ đoạ đầy,
Để mây đen trên nước Nga đau khổ
Tan đi trong ánh sáng ban ngày.
(Cầu nguyện - Đào Tuấn ảnh dịch)
Cũng như nhiều nhà văn, nhà thơ tài năng khác, Akhmatova sợ người đời sau này sẽ không hiểu cuộc đời mình, không hiểu thơ mình, chính vì vậy sẽ quên lãng nó. Ngay từ năm 1913, dự cảm về số phận vinh quang đầy cay đắng sẽ dành cho mình, bà đã viết những dòng thơ này để minh chứng cho tấm lòng mình, để hậu thế phán xét:
Và em đứng đây - lạy Chúa lòng lành!-
Trên lớp phủ băng mỏng manh, dễ vỡ
Còn anh, những bức thư của em xin hãy giữ,
Cho thế hệ mai sau phán xét chúng mình.
……..
Ôi, nước uống trần gian sao ngọt quá,
Lưới tình trần gian sao dệt quá dày.
Hãy để cho tên em một khi nào đó
Lũ trẻ sẽ đọc lên trong sách lúc học bài.
(Tạ Phương dịch)
Đúng như dự cảm của nhà thơ, ngày hôm nay trường học đã giảng dạy thơ của bà cho học sinh. Thế hệ thế kỷ XXI, thế hệ của máy vi tính và quảng cáo, vẫn đọc, hiểu và yêu thơ bà, biết ơn bà - người gìn giữ, truyền lại cho họ những điều tốt đẹp nhất trong văn hoá Nga.[...]
Bài viết này trích trong "Một thế kỷ thơ Anna Akhmatova" của Đào Tuấn Ảnh, đăng trên tạp chí Nghiên Cứu Văn Học số 2/2004