Chúng ta không được quên
chúng ta đã chiến thắng như thế nào
Hãy thử tưởng tượng rằng một nửa dân số nước Anh, đàn ông, phụ nữ và trẻ em chết trong Chiến tranh thế giới thứ II. Điều này sẽ làm nên thảm họa gì? "Chiến thắng" năm 1945 sẽ được nhìn nhận và thậm chí là kỷ niệm như thế nào? Vậy mà 27 triệu người Xô Viết đã chết khi cuộc chiến kết thúc. Thực tế, nước Anh mất khoảng 0,6% dân số, nước Mỹ mất còn ít hơn, khoảng 0,3%. Nhưng Liên Xô đã mất tới 14% dân số sau chiến tranh.
Những mất mát này là sản phẩm của cuộc xâm chiếm tàn bạo của phát xít Đức năm 1941 và lòng quyết tâm chiến đấu và quét sạch phát xít khỏi lãnh thổ mình của Liên Xô. Mức độ hy sinh lớn lao này cho thấy mặt trận phía Đông đã rộng lớn và thảm khốc thế nào. Đây cũng chính là nơi phần lớn quân Đức thiệt mạng. Đó là nơi mà người ta đã giành chiến thắng hoặc cũng có thể thua nếu như Hồng quân Liên Xô không thành công trong việc chặn lại quân Đức năm 1941 và sau đó là khiến chúng thất bại liên tiếp ở Stalingrad năm 1942 và Kursk năm 1943. Thật khó để tưởng tượng làm thế nào mà các nền dân chủ phương Tây như Mỹ và Anh có thể dẹp tan đế chế phát xít Đức thời đó.
Giai đoạn giữa của cuộc chiến thật khó khăn với việc Liên Xô còn đang chật vật trước cửa ngõ Stalingrad, Rommel chuẩn bị lấy được Ai Cập, chiến trường Đại Tây Dương chưa đi tới chiến thắng và nước Mỹ mới chỉ bắt đầu can dự. Chiến thắng không tự nhiên mà có. Cuộc kháng chiến của người Xô Viết đã tạo ra sự khác biệt. Cùng với việc Liên Xô tập trung nền kinh tế vào sản xuất vũ khí và đề ra cải cách, họ đã biến những nỗ lực kém cỏi năm 1941 thành những trận chiến lớn mùa hè năm 1943, và ở đâu Liên Xô cũng chiến thắng.
Quân Đức không chỉ thua bởi lực lượng hùng hậu của lính Nga mà còn bởi chiến thuật sáng tạo và những vũ khí siêu hạng của Liên Xô. Nếu không phải vậy, quân đội của Hitler có thể đã chiến thắng và một đế chế rộng lớn của người Đức ở Eurasia sẽ trở thành cơn ác mộng với liên minh phương Tây. Ngày nay có người cho rằng chiến thắng của Liên Xô cũng để lại vị đắng như việc một số nước Baltic cho rằng Liên Xô đã giải phóng họ để áp đặt một chế độ khác cũng không mấy tự do. Điều này khiến cho việc công nhận những đóng góp của Liên Xô vào chiến thắng trở nên khó khăn. Nhưng những vị đắng này sẽ không là gì nếu chúng ta nhìn trở lại 60 năm trước. Rõ ràng là những người dân Đông Âu đã hưởng một cuộc sống dưới thời cộng sản tốt đẹp hơn nhiều dưới sự chiếm đóng của Đức. Vào giai đoạn giữa của cuộc chiến, nước Đức lúc đó đã gọi 35 triệu người ở phía Đông đang trải qua nạn đói khủng khiếp là "những kẻ ăn không", chưa kể đã giết hàng loạt người Do Thái và dân gypsy. Những tài liệu của Đức miêu tả người dân ở phía Đông là "những nô lệ" của đế chế mới. Một đế chế lố bịch như vậy đã chiến thắng và rồi thất bại ở mặt trận phía Đông, và ai lại có thể hối tiếc cho sự thất bại của chúng?
Liên Xô không phải nước duy nhất bị gạt ra ngoài câu chuyện chiến thắng ở phương Tây. Người Trung Quốc cũng mất khoảng 20 triệu người do sự chiếm đóng của Nhật. Khi lực lượng vũ trang Xô Viết đánh lại quân Đức, đội quân Trung Quốc tuy kém hiệu quả hơn nhưng đông đảo đã ghìm được chân Nhật ở châu Á. Nếu như Nhật giành chiến thắng nhanh chóng ở Trung Quốc, họ sẽ chuẩn bị được lực lượng tấn công vào phía sau lưng Liên Xô và sẽ tấn công tiếp vào Thái Bình Dương. Trong trường hợp này, tổn thất của đồng minh phương Tây sẽ lớn hơn nhiều nếu không có sự kháng cự bền bỉ của người đồng minh châu Á của họ.
Trong khi lên án việc Liên Xô gây ảnh hưởng với Đông Âu, chúng ta không nên quên rằng việc không quân của đồng minh ném bom các thành phố của Đức và Nhật vào cuối cuộc chiến đã gây nên cái chết của hơn 600.000 thường dân và mở đầu thời kỳ nguyên tử. Sau năm 1945, Anh và Pháp lại áp đặt chế độ cai trị đế quốc phi dân chủ lên châu Phi và Đông Nam Á. Không ai trong số những người chiến thắng cảm thấy gì về điều này. Việc tìm kiếm chiến thắng đã khiến tất cả các nước đồng minh làm những điều mà họ không bao giờ tưởng tượng được mình sẽ làm.
Một câu hỏi mà thế giới đã lãng quên khi say sưa với chiến thắng là tại sao những quốc gia thường tự xem mình là tiên tiến và hiện đại lạiâ chìm vào những cuộc chiến tranh, xung đột nội bộ, diệt chủng trong giai đoạn từ 1914-1945. Thật may mắn là năm 1945 đã đánh dấu sự kết thúc của 30 năm khủng hoảng này nhưng những vấn đề của nó thì vẫn còn. Nếu họ có thể làm điều đó trước đây thì điều gì đã ngăn cản thế giới phát triển lại một lần nữa rơi vào vòng xoáy của chiến tranh và bạo lực? Có thể họ đã học được bài học năm 1945, nhưng những điều ngăn cản họ làm vậy phải được hiểu đúng. Nếu một lần nữa diễn ra như vậy, hàng triệu cái chết sẽ có thể chỉ có họ phải gánh chịu.
Phương Ngân (Theo The Guardian)
chúng ta đã chiến thắng như thế nào
Hãy thử tưởng tượng rằng một nửa dân số nước Anh, đàn ông, phụ nữ và trẻ em chết trong Chiến tranh thế giới thứ II. Điều này sẽ làm nên thảm họa gì? "Chiến thắng" năm 1945 sẽ được nhìn nhận và thậm chí là kỷ niệm như thế nào? Vậy mà 27 triệu người Xô Viết đã chết khi cuộc chiến kết thúc. Thực tế, nước Anh mất khoảng 0,6% dân số, nước Mỹ mất còn ít hơn, khoảng 0,3%. Nhưng Liên Xô đã mất tới 14% dân số sau chiến tranh.
Những mất mát này là sản phẩm của cuộc xâm chiếm tàn bạo của phát xít Đức năm 1941 và lòng quyết tâm chiến đấu và quét sạch phát xít khỏi lãnh thổ mình của Liên Xô. Mức độ hy sinh lớn lao này cho thấy mặt trận phía Đông đã rộng lớn và thảm khốc thế nào. Đây cũng chính là nơi phần lớn quân Đức thiệt mạng. Đó là nơi mà người ta đã giành chiến thắng hoặc cũng có thể thua nếu như Hồng quân Liên Xô không thành công trong việc chặn lại quân Đức năm 1941 và sau đó là khiến chúng thất bại liên tiếp ở Stalingrad năm 1942 và Kursk năm 1943. Thật khó để tưởng tượng làm thế nào mà các nền dân chủ phương Tây như Mỹ và Anh có thể dẹp tan đế chế phát xít Đức thời đó.
Giai đoạn giữa của cuộc chiến thật khó khăn với việc Liên Xô còn đang chật vật trước cửa ngõ Stalingrad, Rommel chuẩn bị lấy được Ai Cập, chiến trường Đại Tây Dương chưa đi tới chiến thắng và nước Mỹ mới chỉ bắt đầu can dự. Chiến thắng không tự nhiên mà có. Cuộc kháng chiến của người Xô Viết đã tạo ra sự khác biệt. Cùng với việc Liên Xô tập trung nền kinh tế vào sản xuất vũ khí và đề ra cải cách, họ đã biến những nỗ lực kém cỏi năm 1941 thành những trận chiến lớn mùa hè năm 1943, và ở đâu Liên Xô cũng chiến thắng.
Quân Đức không chỉ thua bởi lực lượng hùng hậu của lính Nga mà còn bởi chiến thuật sáng tạo và những vũ khí siêu hạng của Liên Xô. Nếu không phải vậy, quân đội của Hitler có thể đã chiến thắng và một đế chế rộng lớn của người Đức ở Eurasia sẽ trở thành cơn ác mộng với liên minh phương Tây. Ngày nay có người cho rằng chiến thắng của Liên Xô cũng để lại vị đắng như việc một số nước Baltic cho rằng Liên Xô đã giải phóng họ để áp đặt một chế độ khác cũng không mấy tự do. Điều này khiến cho việc công nhận những đóng góp của Liên Xô vào chiến thắng trở nên khó khăn. Nhưng những vị đắng này sẽ không là gì nếu chúng ta nhìn trở lại 60 năm trước. Rõ ràng là những người dân Đông Âu đã hưởng một cuộc sống dưới thời cộng sản tốt đẹp hơn nhiều dưới sự chiếm đóng của Đức. Vào giai đoạn giữa của cuộc chiến, nước Đức lúc đó đã gọi 35 triệu người ở phía Đông đang trải qua nạn đói khủng khiếp là "những kẻ ăn không", chưa kể đã giết hàng loạt người Do Thái và dân gypsy. Những tài liệu của Đức miêu tả người dân ở phía Đông là "những nô lệ" của đế chế mới. Một đế chế lố bịch như vậy đã chiến thắng và rồi thất bại ở mặt trận phía Đông, và ai lại có thể hối tiếc cho sự thất bại của chúng?
Liên Xô không phải nước duy nhất bị gạt ra ngoài câu chuyện chiến thắng ở phương Tây. Người Trung Quốc cũng mất khoảng 20 triệu người do sự chiếm đóng của Nhật. Khi lực lượng vũ trang Xô Viết đánh lại quân Đức, đội quân Trung Quốc tuy kém hiệu quả hơn nhưng đông đảo đã ghìm được chân Nhật ở châu Á. Nếu như Nhật giành chiến thắng nhanh chóng ở Trung Quốc, họ sẽ chuẩn bị được lực lượng tấn công vào phía sau lưng Liên Xô và sẽ tấn công tiếp vào Thái Bình Dương. Trong trường hợp này, tổn thất của đồng minh phương Tây sẽ lớn hơn nhiều nếu không có sự kháng cự bền bỉ của người đồng minh châu Á của họ.
Trong khi lên án việc Liên Xô gây ảnh hưởng với Đông Âu, chúng ta không nên quên rằng việc không quân của đồng minh ném bom các thành phố của Đức và Nhật vào cuối cuộc chiến đã gây nên cái chết của hơn 600.000 thường dân và mở đầu thời kỳ nguyên tử. Sau năm 1945, Anh và Pháp lại áp đặt chế độ cai trị đế quốc phi dân chủ lên châu Phi và Đông Nam Á. Không ai trong số những người chiến thắng cảm thấy gì về điều này. Việc tìm kiếm chiến thắng đã khiến tất cả các nước đồng minh làm những điều mà họ không bao giờ tưởng tượng được mình sẽ làm.
Một câu hỏi mà thế giới đã lãng quên khi say sưa với chiến thắng là tại sao những quốc gia thường tự xem mình là tiên tiến và hiện đại lạiâ chìm vào những cuộc chiến tranh, xung đột nội bộ, diệt chủng trong giai đoạn từ 1914-1945. Thật may mắn là năm 1945 đã đánh dấu sự kết thúc của 30 năm khủng hoảng này nhưng những vấn đề của nó thì vẫn còn. Nếu họ có thể làm điều đó trước đây thì điều gì đã ngăn cản thế giới phát triển lại một lần nữa rơi vào vòng xoáy của chiến tranh và bạo lực? Có thể họ đã học được bài học năm 1945, nhưng những điều ngăn cản họ làm vậy phải được hiểu đúng. Nếu một lần nữa diễn ra như vậy, hàng triệu cái chết sẽ có thể chỉ có họ phải gánh chịu.
Phương Ngân (Theo The Guardian)