Tui đã phải hỏi ý kiến mấy bác Admin vì sợ vi phạm nội quy diễn đàn (chuyện chính trị), nhưng các bác bảo thôi thì post lên cũng được, xin mạo muội đưa lên một số quan điểm cá nhân, xin các bác đừng chê cười.
Về kinh tế
Tôi nhớ vào khoảng năm 1980, khi đó tôi chừng 10 tuổi, hàng hoá ngoại chỉ có mỗi hàng của Liên Xô do một số cán bộ loại “ngoong” thường xuyên đi công tác nước ngoài mang về. Bao diêm của Liên Xô cũng hơn hẳn của Việt Nam. Một bao có 200 que, to đùng, đánh trong bão cũng được, trong mưa cũng ra lửa. Ấy thế mà giá bán chỉ có 1 cô-pếch, rẻ khiếp thế! Việt Nam ta hồi đó cái gì cũng thiếu, đến cái gác-đờ-bu xe đạp cũng không có, xe đạp toàn “cởi truồng”. Ông tôi hồi đó là chủ nhiệm một hợp tác xã công nghiệp tại Hà Nội, rất cần nhôm để sản xuất gác-đờ-bu mà không có nhôm. Hồi đó nhà nước độc quyền ngoại thương, chẳng ai được nhập khẩu cái gì cả. Nhưng cũng không có sao, ta đã có nhôm thỏi được chế tạo từ… chậu nhôm Liên Xô. Chậu nhôm Liên Xô tốt thế, ta nhập về dân đúc lại thành nhôm thỏi để làm việc khác, vẫn lãi.
Nền kinh tế Liên Xô hồi đó rất coi trọng công tác thống kê. Người ta thống kê trong xã hội có bao nhiêu phụ nữ, có bao nhiêu người đi giày cỡ 40, cỡ 41 và cứ thế sản xuất hàng loạt loại giày tương tự đôi ủng lính thời chiến tranh. Bán chẳng ai mua lại đem về quê phát hay bán rẻ gì đó, đi bền thiên niên vạn đại. Đó là đặc trưng của nền kinh tế tập trung kế hoạch hoá cao độ.
Về sau tôi mới được biết đất nước Liên Xô là một đất nước cực kỳ giàu có về tài nguyên thiên nhiên. Một phần chính vì thế mà họ có thể có được một tiềm lực quân sự kinh khủng để chiến thắng trong cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại. Tạm gác lại đây yếu tố con người Nga, nhưng rõ ràng, Liên Xô đã khai thác được nhiều quặng kim loại quý cho công nghiệp quốc phòng từ Si-bê-ri, vàng để đổi cho Mỹ lấy khí tài trong các hợp đồng lend-lease… túm lại là không có cái tài nguyên khủng khiếp đó thì thua luôn.
Đến thời hậu chiến tranh cũng thế. Mãi đến lúc đi học đại học tôi mới biết, cách phát triển đó của Liên Xô là sự phát triển bất chấp tương lai. Một nền kinh tế không thu được lợi nhuận từ nước ngoài là một nền kinh tế vứt đi. Ấy thế mà họ còn nuôi cả một phe xã hội chủ nghĩa, cả một Việt Nam đang đánh nhau, một Cu-ba đang đương đầu với Mỹ…
Về Nhà nước và Pháp luật
Nhà nước của Liên Xô là kiểu Nhà nước Xô-viết, cái đó thì ai cũng biết. Ông Lê-nin đã viết “tất cả quyền lực thuộc về các Xô-viết”. Nhưng có lẽ, kiểu nhà nước đó chỉ phù hợp với nền kinh tế thời chiến, với nền kinh tế mới thoát thai từ nước Nga nông nô mà thôi. Để vươn lên “sánh vai các cường quốc năm châu” với đúng nghĩa làm giàu thì Nhà nước đó tỏ ra là thiếu năng lực. Khi nghiên cứu về bản chất bộ máy Nhà nước Xô-viết, tôi nhận thấy đó là một Nhà nước mang tính cơ cấu, cồng kềnh, kém hiệu lực. Tính trì trệ quá cao, cộng với phương hướng chỉ đạo kế hoạch hoá cao độ từ hệ thống các cơ quan Đảng cộng sản Liên Xô… đó là bức tranh sơ lược toàn cảnh về Nhà nước Xô-viết.
Về pháp luật Xô-viết… cứ nhìn pháp luật Việt Nam như thế nào thì pháp luật Liên Xô… khá hơn một tí. Nhưng cũng xuất phát từ quan điểm pháp luật là sự thể chế hoá chính sách của Đảng, mà chính sách thì có tính linh động hơn hệ thống pháp luật vốn dĩ có tính ổn định tương đối hơn nhiều, do đó việc sửa luật theo chính sách làm cho hệ thống pháp luật lúc đầu thì còn đúng lý thuyết, còn khá phù hợp, càng về sau càng tệ. Việc ban hành luật mới theo sự thay đổi của chính sách cũng vậy, làm cho hệ thống pháp luật ngày càng chồng chéo, mâu thuẫn, kém hiệu lực.
Tai hoạ lớn nhất là mặc dù tư tưởng, quan điểm thì hay tuyệt vời, nhưng trong quá trình thực hiện thì lại quá xa rời nhân dân, đến mức phản dân chủ. Tất cả những trò như cơ cấu cán bộ trước đại hội, trước khi bầu cử đại biểu các Xô-viết… đều là những cái tưởng chừng như đảm bảo tính ổn định, nhưng lại là vi phạm dân chủ, vì từ lúc nào không rõ, người ta gạt nhân dân ra khỏi đời sống chính trị, và người lãnh đạo càng ngày càng xa rời thực tiễn cuộc sống.
Về chiến lược chính trị
Phải thừa nhận rằng, cuộc Cách mạng tháng Mười đã đem lại cho nhân loại nhiều thứ. Đó là niềm hy vọng vào tương lai tươi sáng của loài người. Công lao của nhân dân Xô-viết trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2 đã cứu cả thế giới khỏi thảm họa phát-xít, đó là điều không bao giờ cần phải bàn cãi. Ta thử đặt vấn đề như thế này xem nhé, nếu như Liên Xô thua trong cuộc chiến tranh đó thì thế giới sẽ ra sao? Mỹ thua Đức là cái chắc. Đến đánh nhau với Việt Nam còn thua cơ mà. Anh quốc thì không tính, chỉ cần 2 tuần là chung kết thôi. Đó quả là một thảm hoạ.
Chúng ta hãy xem xét đôi chút về vai trò của Xta-lin. Ông là người khắc nghiệt và tàn bạo – cái đó quá rõ, chúng ta đã biết qua những vụ “thanh lý” thời những năm 1930 (đọc “Dzét-chi Ar-bát-ta” thì rõ). Cả những sai lầm của ông vào thời kỳ đầu của cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại, nhân dân Liên Xô cũng đã phải trả giá rất đắt. Nhưng phải thừa nhận sau đó ông cũng biết sửa sai, và có những công lao lớn trong điều binh khiển tướng, như dùng lại viên tướng “thất sủng” G.K. Giu-cốp. Trong “Nhớ lại và Suy nghĩ” Giu-cốp có viết, không phải lúc nào ông và A.M. Va-xi-lép-xki cũng bảo vệ được “ý tưởng” của mình trước Tổng tư lệnh tối cao, và do đó kết quả đạt được trong một số chiến dịch quân sự không được ưng ý… nhưng phần lớn là nếu tỏ ra vững vàng và có lý là được Xta-lin ủng hộ. Điều đó đã chứng tỏ ông là người hơn hẳn địch thủ A-đôn-phơ Hít-le.
Sai lầm lớn nhất của Xta-lin là “tham vọng đế chế” sau chiến tranh. Tư tưởng nước lớn (sauvinism) của ông đã xây dựng được một đế chế rộng lớn từ Trung Âu trải dài đến tận bờ Thái Bình Dương, từ biển Bắc đến Đông Nam Á (tạm gác những bất đồng rạn nứt trong nội bộ phe xã hội chủ nghĩa). Trong cái đế chế đó, ngoài sự quá tải về gánh nặng kinh tế còn có sự quá tải về tư tưởng dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc luôn luôn có những sức mạnh tiềm tàng mà các nhà lãnh đạo cộng sản không phải lúc nào cũng có thể khống chế được. Đó là sai lầm lớn của Xta-lin. Thuyền to thì sóng cả. Đế chế của ông bản thân nó không thể dung hoà được giữa những tư tưởng duy ý chí với những vấn đề dân tộc. Con thuyền đã không bị gãy ở sống thuyền mà vỡ dần từng mảnh nhỏ đến vỡ tan. Sự tan vỡ của Liên bang Xô-viết năm 1991 chỉ là hệ quả của những sai lầm của chủ nghĩa xô-vanh Xta-lin-nít. Goóc-ba-chốp chỉ là một gã bất tài cờ đến tay mà không phất được, vì lá cờ đó là một lá cờ rách rưới quá có muốn phất cũng không được. Tất nhiên, M.X. Goóc-ba-chốp cũng đã phản bội lý tưởng cộng sản, một tay cơ hội nhưng ông ta cũng đã đi vào lịch sử vì những việc đã làm. Nói nhỏ với nhau thôi nhé, Việt Nam ta cũng phải chịu ơn ông ta. Nếu không có những hành động dũng cảm của Goóc-ba-chốp thì có lẽ, chúng ta đến nay còn khổ hơn. Nếu không mất đi chỗ dựa Liên Xô, làm sao chúng ta không vùng lên mà bước đi những bước chập chững đầu tiên? Chẳng phải tư tưởng pê-rê-srôi-ka là của ông ta sao? Lỗi của ông ta chỉ là ở chỗ không biết thực hiện nó như thế nào, làm thế nào để đi đến đích mà thôi.
Trong cuốn sách “Sự phát triển của Trung Hoa không thể tách khỏi thế giới” các tác giả có viết, Trung Quốc không thể và cũng không tham việc đảm nhận địa vị siêu cường. Siêu cường kiểu Liên Xô cũ và kiểu Mỹ ngày nay là việc can thiệp và tài trợ cho tất cả những sự kiện chính trị trên thế giới trong vòng ảnh hưởng của mình. Siêu cường kiểu Trung Quốc là kiểu siêu cường nguy hiểm có thực lực, chi phí thấp, gây nhiều sự đề phòng và dè chừng chứ không chiếm được tình cảm như Liên Xô.
Nhân dân các dân tộc ở các nước cộng hoà thuộc Liên Xô cũ cần phải biết ơn một người: Vla-đi-mia I-lích Lê-nin. Người lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản toàn thế giới với tư tưởng, học thuyết về Nhà nước liên bang đã trao trả độc lập cho các dân tộc vốn là dân thuộc địa của đế chế Nga hoàng: các nước cộng hoà vùng trung Á, các nước vùng Ban-tích, Phần Lan và cả Ba-lan nữa. Nếu ông ấy không làm thế thì liệu đến nay có các nước Cộng hoà hiện nay hay không? Mi-kha-in Goóc-ba-chốp chỉ là người “trao trả” lại nền độc lập cho các nước cộng hoà đó mà thôi, thực chất là việc làm tan vỡ Liên bang Xô-viết. Hậu quả của việc đó là không thể đánh giá được một sớm một chiều, nước Nga đã không lường được những khó khăn khi chủ nghĩa tư bản mông muội hoành hành trên toàn đất nước.
Nước Nga và nhân loại may mắn vì đã có Lê-nin. Nhưng nước Nga cũng rủi ro khi Người mất sớm quá. Nhưng tư tưởng của Người đến nay nhân loại còn đang thực hiện: chủ nghĩa xã hội do Người nghiên cứu và phát triển tư tưởng quan điểm được thực hiện ở một nước tư bản: Thụy Điển.
Có hai Vô-lô-đi-a mà nước Nga đã và sẽ phải chịu ơn. Một người là Lê-nin: ông đã làm cho nước Nga từ một nước nông nô tiền tư bản lạc hậu trở thành một siêu cường. Còn người thứ hai, Pu-tin đang cố gắng đạt được những kết quả bước đầu để nước Nga tìm lại địa vị siêu cường ấy. Con đường của ông ta còn nhiều chông gai, nhưng điều chắc chắn ông ta là người dũng cảm và dám làm.
Liên Xô sẽ sống mãi trong tình cảm của những người yêu nước Nga
Những gì mà tôi đã phân tích, là những nhược điểm đã từng tồn tại của xã hội Liên Xô và việc siêu cường này gục ngã là điều khó tránh khỏi. Nhưng ngược lại, hầu như tất cả những người thày, những người bạn vong niên của tôi, những người được đất nước vĩ đại này cho ăn học từ cuối những năm 1950 đến cuối những năm 1980 đều nhìn lại với những tình cảm chân thành và nồng hậu nhất. Không cần biết là cuộc chiến tranh Việt Nam là đúng đắn hay sai lầm, nhưng một khi đã lựa chọn con đường đấu tranh và xây dựng lại như Việt Nam đã làm thì rõ ràng Liên Xô đã là những người bạn tốt với đúng ý nghĩa của nó. Gạt bỏ những toan tính và mưu đồ chính trị của những nhà lãnh đạo, thì còn lại là tình cảm cá nhân của nhân dân hai nước. Có nhiều bạn trẻ ngày nay đang lạc hướng trong việc xác định tình cảm và cả tư tưởng của mình. Trong thời đại nào cũng thế, dưới thể chế nào cũng thế, tình cảm giữa nhân dân hai nước Việt – Nga vẫn chân thành và nồng hậu. Cho dù mấy tháng trước đây có ai đó không được mời sang dự 60 năm chiến thắng phát-xít, nhưng chúng ta cũng có thể nên hiểu rằng, biết đâu bây giờ lãnh đạo người ta xác định là cần phải chơi với ai… đó là những toan tính chính trị của các nhà lãnh đạo mà thôi, chẳng liên quan gì đến nhân dân chúng ta cả. Cũng biết đâu trong những năm tới có những sự thay đổi lớn về mặt chính trị sự việc diễn biến sẽ khác. Các bạn nên hiểu rằng, lãnh đạo Nga họ không mời lãnh đạo của ta, chứ không phải là nhân dân Nga ghẻ lạnh nhân dân Việt Nam. Mà nói thật, phải mình mình cũng chẳng mời. Hãy nhìn lại lịch sử xem thái độ của “chúng ta” như thế nào qua các “thời kỳ lịch sử” hết Trung Quốc đến Liên Xô lại ASEAN, nay là Hoa Kỳ… chẳng biết thế nào mà lần…
Về kinh tế
Tôi nhớ vào khoảng năm 1980, khi đó tôi chừng 10 tuổi, hàng hoá ngoại chỉ có mỗi hàng của Liên Xô do một số cán bộ loại “ngoong” thường xuyên đi công tác nước ngoài mang về. Bao diêm của Liên Xô cũng hơn hẳn của Việt Nam. Một bao có 200 que, to đùng, đánh trong bão cũng được, trong mưa cũng ra lửa. Ấy thế mà giá bán chỉ có 1 cô-pếch, rẻ khiếp thế! Việt Nam ta hồi đó cái gì cũng thiếu, đến cái gác-đờ-bu xe đạp cũng không có, xe đạp toàn “cởi truồng”. Ông tôi hồi đó là chủ nhiệm một hợp tác xã công nghiệp tại Hà Nội, rất cần nhôm để sản xuất gác-đờ-bu mà không có nhôm. Hồi đó nhà nước độc quyền ngoại thương, chẳng ai được nhập khẩu cái gì cả. Nhưng cũng không có sao, ta đã có nhôm thỏi được chế tạo từ… chậu nhôm Liên Xô. Chậu nhôm Liên Xô tốt thế, ta nhập về dân đúc lại thành nhôm thỏi để làm việc khác, vẫn lãi.
Nền kinh tế Liên Xô hồi đó rất coi trọng công tác thống kê. Người ta thống kê trong xã hội có bao nhiêu phụ nữ, có bao nhiêu người đi giày cỡ 40, cỡ 41 và cứ thế sản xuất hàng loạt loại giày tương tự đôi ủng lính thời chiến tranh. Bán chẳng ai mua lại đem về quê phát hay bán rẻ gì đó, đi bền thiên niên vạn đại. Đó là đặc trưng của nền kinh tế tập trung kế hoạch hoá cao độ.
Về sau tôi mới được biết đất nước Liên Xô là một đất nước cực kỳ giàu có về tài nguyên thiên nhiên. Một phần chính vì thế mà họ có thể có được một tiềm lực quân sự kinh khủng để chiến thắng trong cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại. Tạm gác lại đây yếu tố con người Nga, nhưng rõ ràng, Liên Xô đã khai thác được nhiều quặng kim loại quý cho công nghiệp quốc phòng từ Si-bê-ri, vàng để đổi cho Mỹ lấy khí tài trong các hợp đồng lend-lease… túm lại là không có cái tài nguyên khủng khiếp đó thì thua luôn.
Đến thời hậu chiến tranh cũng thế. Mãi đến lúc đi học đại học tôi mới biết, cách phát triển đó của Liên Xô là sự phát triển bất chấp tương lai. Một nền kinh tế không thu được lợi nhuận từ nước ngoài là một nền kinh tế vứt đi. Ấy thế mà họ còn nuôi cả một phe xã hội chủ nghĩa, cả một Việt Nam đang đánh nhau, một Cu-ba đang đương đầu với Mỹ…
Về Nhà nước và Pháp luật
Nhà nước của Liên Xô là kiểu Nhà nước Xô-viết, cái đó thì ai cũng biết. Ông Lê-nin đã viết “tất cả quyền lực thuộc về các Xô-viết”. Nhưng có lẽ, kiểu nhà nước đó chỉ phù hợp với nền kinh tế thời chiến, với nền kinh tế mới thoát thai từ nước Nga nông nô mà thôi. Để vươn lên “sánh vai các cường quốc năm châu” với đúng nghĩa làm giàu thì Nhà nước đó tỏ ra là thiếu năng lực. Khi nghiên cứu về bản chất bộ máy Nhà nước Xô-viết, tôi nhận thấy đó là một Nhà nước mang tính cơ cấu, cồng kềnh, kém hiệu lực. Tính trì trệ quá cao, cộng với phương hướng chỉ đạo kế hoạch hoá cao độ từ hệ thống các cơ quan Đảng cộng sản Liên Xô… đó là bức tranh sơ lược toàn cảnh về Nhà nước Xô-viết.
Về pháp luật Xô-viết… cứ nhìn pháp luật Việt Nam như thế nào thì pháp luật Liên Xô… khá hơn một tí. Nhưng cũng xuất phát từ quan điểm pháp luật là sự thể chế hoá chính sách của Đảng, mà chính sách thì có tính linh động hơn hệ thống pháp luật vốn dĩ có tính ổn định tương đối hơn nhiều, do đó việc sửa luật theo chính sách làm cho hệ thống pháp luật lúc đầu thì còn đúng lý thuyết, còn khá phù hợp, càng về sau càng tệ. Việc ban hành luật mới theo sự thay đổi của chính sách cũng vậy, làm cho hệ thống pháp luật ngày càng chồng chéo, mâu thuẫn, kém hiệu lực.
Tai hoạ lớn nhất là mặc dù tư tưởng, quan điểm thì hay tuyệt vời, nhưng trong quá trình thực hiện thì lại quá xa rời nhân dân, đến mức phản dân chủ. Tất cả những trò như cơ cấu cán bộ trước đại hội, trước khi bầu cử đại biểu các Xô-viết… đều là những cái tưởng chừng như đảm bảo tính ổn định, nhưng lại là vi phạm dân chủ, vì từ lúc nào không rõ, người ta gạt nhân dân ra khỏi đời sống chính trị, và người lãnh đạo càng ngày càng xa rời thực tiễn cuộc sống.
Về chiến lược chính trị
Phải thừa nhận rằng, cuộc Cách mạng tháng Mười đã đem lại cho nhân loại nhiều thứ. Đó là niềm hy vọng vào tương lai tươi sáng của loài người. Công lao của nhân dân Xô-viết trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2 đã cứu cả thế giới khỏi thảm họa phát-xít, đó là điều không bao giờ cần phải bàn cãi. Ta thử đặt vấn đề như thế này xem nhé, nếu như Liên Xô thua trong cuộc chiến tranh đó thì thế giới sẽ ra sao? Mỹ thua Đức là cái chắc. Đến đánh nhau với Việt Nam còn thua cơ mà. Anh quốc thì không tính, chỉ cần 2 tuần là chung kết thôi. Đó quả là một thảm hoạ.
Chúng ta hãy xem xét đôi chút về vai trò của Xta-lin. Ông là người khắc nghiệt và tàn bạo – cái đó quá rõ, chúng ta đã biết qua những vụ “thanh lý” thời những năm 1930 (đọc “Dzét-chi Ar-bát-ta” thì rõ). Cả những sai lầm của ông vào thời kỳ đầu của cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại, nhân dân Liên Xô cũng đã phải trả giá rất đắt. Nhưng phải thừa nhận sau đó ông cũng biết sửa sai, và có những công lao lớn trong điều binh khiển tướng, như dùng lại viên tướng “thất sủng” G.K. Giu-cốp. Trong “Nhớ lại và Suy nghĩ” Giu-cốp có viết, không phải lúc nào ông và A.M. Va-xi-lép-xki cũng bảo vệ được “ý tưởng” của mình trước Tổng tư lệnh tối cao, và do đó kết quả đạt được trong một số chiến dịch quân sự không được ưng ý… nhưng phần lớn là nếu tỏ ra vững vàng và có lý là được Xta-lin ủng hộ. Điều đó đã chứng tỏ ông là người hơn hẳn địch thủ A-đôn-phơ Hít-le.
Sai lầm lớn nhất của Xta-lin là “tham vọng đế chế” sau chiến tranh. Tư tưởng nước lớn (sauvinism) của ông đã xây dựng được một đế chế rộng lớn từ Trung Âu trải dài đến tận bờ Thái Bình Dương, từ biển Bắc đến Đông Nam Á (tạm gác những bất đồng rạn nứt trong nội bộ phe xã hội chủ nghĩa). Trong cái đế chế đó, ngoài sự quá tải về gánh nặng kinh tế còn có sự quá tải về tư tưởng dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc luôn luôn có những sức mạnh tiềm tàng mà các nhà lãnh đạo cộng sản không phải lúc nào cũng có thể khống chế được. Đó là sai lầm lớn của Xta-lin. Thuyền to thì sóng cả. Đế chế của ông bản thân nó không thể dung hoà được giữa những tư tưởng duy ý chí với những vấn đề dân tộc. Con thuyền đã không bị gãy ở sống thuyền mà vỡ dần từng mảnh nhỏ đến vỡ tan. Sự tan vỡ của Liên bang Xô-viết năm 1991 chỉ là hệ quả của những sai lầm của chủ nghĩa xô-vanh Xta-lin-nít. Goóc-ba-chốp chỉ là một gã bất tài cờ đến tay mà không phất được, vì lá cờ đó là một lá cờ rách rưới quá có muốn phất cũng không được. Tất nhiên, M.X. Goóc-ba-chốp cũng đã phản bội lý tưởng cộng sản, một tay cơ hội nhưng ông ta cũng đã đi vào lịch sử vì những việc đã làm. Nói nhỏ với nhau thôi nhé, Việt Nam ta cũng phải chịu ơn ông ta. Nếu không có những hành động dũng cảm của Goóc-ba-chốp thì có lẽ, chúng ta đến nay còn khổ hơn. Nếu không mất đi chỗ dựa Liên Xô, làm sao chúng ta không vùng lên mà bước đi những bước chập chững đầu tiên? Chẳng phải tư tưởng pê-rê-srôi-ka là của ông ta sao? Lỗi của ông ta chỉ là ở chỗ không biết thực hiện nó như thế nào, làm thế nào để đi đến đích mà thôi.
Trong cuốn sách “Sự phát triển của Trung Hoa không thể tách khỏi thế giới” các tác giả có viết, Trung Quốc không thể và cũng không tham việc đảm nhận địa vị siêu cường. Siêu cường kiểu Liên Xô cũ và kiểu Mỹ ngày nay là việc can thiệp và tài trợ cho tất cả những sự kiện chính trị trên thế giới trong vòng ảnh hưởng của mình. Siêu cường kiểu Trung Quốc là kiểu siêu cường nguy hiểm có thực lực, chi phí thấp, gây nhiều sự đề phòng và dè chừng chứ không chiếm được tình cảm như Liên Xô.
Nhân dân các dân tộc ở các nước cộng hoà thuộc Liên Xô cũ cần phải biết ơn một người: Vla-đi-mia I-lích Lê-nin. Người lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản toàn thế giới với tư tưởng, học thuyết về Nhà nước liên bang đã trao trả độc lập cho các dân tộc vốn là dân thuộc địa của đế chế Nga hoàng: các nước cộng hoà vùng trung Á, các nước vùng Ban-tích, Phần Lan và cả Ba-lan nữa. Nếu ông ấy không làm thế thì liệu đến nay có các nước Cộng hoà hiện nay hay không? Mi-kha-in Goóc-ba-chốp chỉ là người “trao trả” lại nền độc lập cho các nước cộng hoà đó mà thôi, thực chất là việc làm tan vỡ Liên bang Xô-viết. Hậu quả của việc đó là không thể đánh giá được một sớm một chiều, nước Nga đã không lường được những khó khăn khi chủ nghĩa tư bản mông muội hoành hành trên toàn đất nước.
Nước Nga và nhân loại may mắn vì đã có Lê-nin. Nhưng nước Nga cũng rủi ro khi Người mất sớm quá. Nhưng tư tưởng của Người đến nay nhân loại còn đang thực hiện: chủ nghĩa xã hội do Người nghiên cứu và phát triển tư tưởng quan điểm được thực hiện ở một nước tư bản: Thụy Điển.
Có hai Vô-lô-đi-a mà nước Nga đã và sẽ phải chịu ơn. Một người là Lê-nin: ông đã làm cho nước Nga từ một nước nông nô tiền tư bản lạc hậu trở thành một siêu cường. Còn người thứ hai, Pu-tin đang cố gắng đạt được những kết quả bước đầu để nước Nga tìm lại địa vị siêu cường ấy. Con đường của ông ta còn nhiều chông gai, nhưng điều chắc chắn ông ta là người dũng cảm và dám làm.
Liên Xô sẽ sống mãi trong tình cảm của những người yêu nước Nga
Những gì mà tôi đã phân tích, là những nhược điểm đã từng tồn tại của xã hội Liên Xô và việc siêu cường này gục ngã là điều khó tránh khỏi. Nhưng ngược lại, hầu như tất cả những người thày, những người bạn vong niên của tôi, những người được đất nước vĩ đại này cho ăn học từ cuối những năm 1950 đến cuối những năm 1980 đều nhìn lại với những tình cảm chân thành và nồng hậu nhất. Không cần biết là cuộc chiến tranh Việt Nam là đúng đắn hay sai lầm, nhưng một khi đã lựa chọn con đường đấu tranh và xây dựng lại như Việt Nam đã làm thì rõ ràng Liên Xô đã là những người bạn tốt với đúng ý nghĩa của nó. Gạt bỏ những toan tính và mưu đồ chính trị của những nhà lãnh đạo, thì còn lại là tình cảm cá nhân của nhân dân hai nước. Có nhiều bạn trẻ ngày nay đang lạc hướng trong việc xác định tình cảm và cả tư tưởng của mình. Trong thời đại nào cũng thế, dưới thể chế nào cũng thế, tình cảm giữa nhân dân hai nước Việt – Nga vẫn chân thành và nồng hậu. Cho dù mấy tháng trước đây có ai đó không được mời sang dự 60 năm chiến thắng phát-xít, nhưng chúng ta cũng có thể nên hiểu rằng, biết đâu bây giờ lãnh đạo người ta xác định là cần phải chơi với ai… đó là những toan tính chính trị của các nhà lãnh đạo mà thôi, chẳng liên quan gì đến nhân dân chúng ta cả. Cũng biết đâu trong những năm tới có những sự thay đổi lớn về mặt chính trị sự việc diễn biến sẽ khác. Các bạn nên hiểu rằng, lãnh đạo Nga họ không mời lãnh đạo của ta, chứ không phải là nhân dân Nga ghẻ lạnh nhân dân Việt Nam. Mà nói thật, phải mình mình cũng chẳng mời. Hãy nhìn lại lịch sử xem thái độ của “chúng ta” như thế nào qua các “thời kỳ lịch sử” hết Trung Quốc đến Liên Xô lại ASEAN, nay là Hoa Kỳ… chẳng biết thế nào mà lần…