NGƯỜI NGA

  • Thread starter Thread starter Guest
  • Ngày gửi Ngày gửi
Quả thật Hungmgmi đã lật tảy đúng hạt sạn "đàn áp" của chị RBD mà chị đang cố lờ lớ lơ đi. Tài thật! Khi tra từ điển từ này của Huy Biên thì nó nói là: đàn áp, trấn áp....chị thấy đối với bài báo này nó chưa ổn lắm khi áp dụng. Thú thực chị không tài nào nghĩ ra được cái từ thanh trừng, thanh lọc như Hùng và Bác NA nêu. Cảm ơn các Bác!

Tuy nhiên vì bài báo đang nói về trưng cầu dân ý nên cái "tít" của bài báo nguyên thuỷ đúng là "Người dân Nga mong muốn...". Đây là nguyện vọng của người dân Nga mà, nó khác hẳn với Nga (đứng chủ thể như một quốc gia)
 
Đại đa số dân Nga đã lãng quên Gorbachov

Như hai năm về trước, đại đa số người dân Nga đã đánh giá một cách tiêu cực hoạt động của Cựu Tổng thống Mikhain Secgay Gorbachov trong quãng thời gian lãnh đạo đất nước– Theo Interfax.

Qua việc trưng cầu dân ý vừa được tiến hành của Quỹ “Ý kiến xã hội”, 52 % người dân Nga khẳng định Gorbachov đã mang lại cho đất nước thiệt hại nhiều hơn là lợi ích. Trong khi đó lượng người đánh giá một cách tích cực hoạt động của vị Tổng thống đầu tiên đồng thời cũng là vị Tổng thống cuối cùng của Liên Xô chiếm có 11% những người được trưng cầu.

Người Nga thích bản thân vị lãnh đạo này còn hơn là sự lãnh đạo của ông ta. Có 33% số người được trưng cầu thú nhận là có thiện cảm với vị Cựu lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô này, trong khi đó số người biểu thị sự ác cảm với ông ta chiếm 38%.

Trước dịp sinh lần thứ 75 của Mikhain Gorbachov vào mùng 3 tháng Ba sắp tới, người dân Nga cũng không quan tâm đến những hoạt động hiện tại của ông ta. 53% số người được trưng cầu đã tỏ rõ rằng họ hoàn toàn dửng dưng với những hoạt động hiện tại của vị Cựu đứng đầu Quốc gia này.

lenta.ru
 
Tớ có cái ảnh biếm họa, thực ra là ảnh ông Gorbachev bình thường thôi, không có gì đặc biệt, nhưng đặc biệt là ở chú thích: "Hỡi nước Mỹ, hãy thận trọng. Mikhail Sergeevich sắp mang perestroika đến cho các bạn" :D :D :D :D
 
gorbachev.jpg

Tớ đã đưa bài dịch của Rừng lên trang chủ.
 
[size=18:554bd01d0b]Nỗi nhớ Việt Nam[/size]

SGGP:: Cập nhật ngày 06/09/2006 lúc 23:05'(GMT+7)

Tháng 8-2006, Matxcơva đang trong những ngày hè thật đẹp với nắng vàng “treo mãi” trên ngọn cây bạch dương trắng. Giữa lòng Matxcơva ấy, không chỉ có những người Việt nhớ nhà mà còn có rất nhiều người Nga đang nhớ và yêu mến Việt Nam.

Tôi biết, có một người Nga luôn nhớ đến Việt Nam với những kỷ niệm sâu nặng của gần 40 năm trước, từ sau chuyến đi đáng nhớ vào năm 1973-1974. Ông là Lev Víchtorovích Tririkin, chuyên gia Xô Viết đã từng tham gia xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Việt Nam trong trái tim tôi
images130948_f4b.jpg

[color=blue:554bd01d0b][size=9:554bd01d0b]Ông và bà Tririkin với tấm ảnh sơn mài được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng năm 1969.[/size][/color]

Tôi trở lại nước Nga đầu tháng 8-2006 theo đoàn của chị Hòa Bình – Giám đốc khu nghỉ mát nổi tiếng Palmira Resort tại Mũi Né (Phan Thiết), đi quảng bá du lịch Việt Nam tại Nga.

Matxcơva đang vào những ngày hè rực nắng. Thật hạnh phúc, khi được gặp lại những du khách Nga đã sang Việt Nam, để được nghe họ kể về những kỷ niệm đẹp và những khám phá thú vị bất ngờ mà không phải người Việt Nam nào cũng nhận thấy!

Tôi cũng được mời dự lễ “thượng thọ 70” của ông Chủ tịch Tập đoàn OAO – Drobmash – nhà cung cấp tới 90% máy nghiền đá cho thị trường Việt Nam. Tên ông là Golotvin, một doanh nhân rất nổi tiếng ở nước Nga. Tại đây tôi đã gặp ông Phêđotov – đại diện xuất khẩu Hãng OAO Drobmash, ông cho biết, ông có một người hàng xóm tên Tririkin tại Matxcơva rất yêu mến Việt Nam, tròn 65 tuổi. Đây là một con người “rất đặc biệt”. Ông khuyên tôi nên thu xếp gặp gỡ ông ấy, sẽ rất thú vị...

Đúng là “món quà” bất ngờ mà ông Phêđotov đã tặng cho chúng tôi trong ngày cuối của chuyến đi. Chúng tôi đã gặp một chuyên gia Liên Xô từng sang giúp đỡ Việt Nam thời đánh Mỹ và được vinh dự tham gia xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội.

Như đã hẹn trước, vào chiều thứ bảy chúng tôi tìm gặp ông tại một ngôi nhà ngoại ô. Hôm ấy, gia đình ông Tririkin đều có mặt đầy đủ. Ông bà có 2 người con: một trai, một gái đều đã trưởng thành và có gia đình. Khi chúng tôi đến, cả gia đình chờ sẵn và đồng loạt chào một câu tiếng Việt rất chuẩn “Chào đồng chí” làm chúng tôi hết sức bất ngờ. Vui quá, tôi cũng “Chào đồng chí Tririkin”. Vẻ mặt ông đăm chiêu, vì hình như đã lâu lắm rồi, ông không được ai gọi bằng “đồng chí” thì phải!?

Căn nhà ngoại ô của ông bà được xây dựng trên thửa đất rộng, có sân vườn ngập cỏ và hoa được tỉa tót rất công phu. Ông bà mời mọi người ngồi vào bàn. Hôm đó, chúng tôi là khách quý của gia đình ông. Bà vợ ông còn rất nhanh nhẹn, thật chu đáo tiếp đồ ăn cho khách. Mọi người cùng mở rượu và chúng tôi chúc ông sức khỏe nhân ngày sinh nhật 65 của ông cách đây ít hôm.

Ông uống một hơi cạn ly vốtca và bắt đầu kể chuyện Việt Nam. Với ông, Việt Nam luôn ở trong trái tim và cứ mỗi lần nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh là ông để tay lên trái tim mình. Hồi đó ông chưa được gặp Bác khi Bác còn sống. Ông nói trong nước mắt là ông rất quý Việt Nam, yêu quý Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông đã kể cho chúng tôi nghe những năm tháng gian khổ đánh Mỹ của người Việt Nam mà ông được chứng kiến.

Ngày ấy ác liệt lắm. Giặc Mỹ ném bom tàn phá và hủy diệt miền Bắc. Ông đến Việt Nam lần đầu tiên năm 1968, để giúp khôi phục thủy điện Thác Bà. Ông là kỹ sư điện, lúc ấy chỉ mới 27 tuổi. Những người Việt Nam cùng làm việc với ông ngày đó, ông vẫn nhớ và rất cảm phục họ.

Ông là chuyên gia, tiêu chuẩn sinh hoạt của ông dù sao cũng đầy đủ. Với đồng nghiệp Việt Nam, ông chia sẻ cho họ chút ít để bớt đi sự thiếu thốn trăm bề mà mỗi người Việt Nam phải nếm trải thời đó. Lúc ấy, ông cũng phải xa vợ con. Cậu con đầu lòng của ông giờ đây đã 43 tuổi, là một doanh nghiệp thành đạt trong ngành xây dựng, khi đó mới 5 tuổi – luôn là nỗi nhớ hàng đêm của ông.

Ông kể về vịnh Hạ Long với niềm tự hào và những lần được cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng lên thăm tại thủy điện Thác Bà. Kỷ niệm về Việt Nam cứ dài mãi và ấn tượng mãi với chuyến đi công tác đặc biệt năm 1973 – 1974, khi ông tham gia xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội.

Công việc của ông thuộc loại “đặc biệt”, ông phụ trách khâu điện chiếu sáng trong Lăng và thiết kế hàng chục ngọn đèn chiếu vào linh cữu của Bác để mọi người cảm thấy Bác vẫn hồng hào và khỏe mạnh như Bác đang ngủ. Ông rất khiêm tốn khi nói về những công việc “bình thường” đó. Ông nói, “Sự hy sinh to lớn của Bác Hồ đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam, không ai được quên. Phải tôn trọng lịch sử, ở Việt Nam đừng để những sự kiện đau buồn diễn ra như với Lênin tại nước Nga!”.

Nỗi nhớ Việt Nam và niềm vui trở lạii
images130946_f4a.jpg

[color=blue:554bd01d0b][size=9:554bd01d0b]Ông Tririkin (x) và các đồng nghiệp tham gia xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1974.[/size][/color]

Bà vợ ông Tririkin hôm ấy rất vui khi thấy chồng mình hát bài “Qua cầu gió bay”. Đã lâu lắm rồi, bà mới thấy một ngày như hôm nay, ông rất vui, vừa đàn vừa hát. Tôi nhận rõ những tấm lòng thiết tha của người cựu chuyên gia Liên Xô đối với đất nước của mình.

Khi nghe tin ngày 30-4-1975 Việt Nam thắng Mỹ, ông bà đã ôm nhau khóc vì Việt Nam! Ông bà mơ ước được đến Việt Nam, thăm thành phố Hồ Chí Minh như bao chuyên gia Liên Xô đã từng gắn bó với Việt Nam, được trở về Hà Nội để vào Lăng viếng Bác, trở lại thủy điện Thác Bà và... được uống nước rau muống luộc dầm quả sấu chua Hà Nội! Nhưng 30 năm rồi ông vẫn chưa đi được...

Ông tâm sự: “Sau Việt Nam, năm 1979, tôi có đi sang Afghanistan làm chuyên gia mấy năm. Nhớ Việt Nam quá và rất muốn quay lại. Nhưng không có dịp nào. Thời đổi mới, cải tổ của Goorbachev, tôi cũng cảm thấy hụt hẫng”.

Buổi chiều thứ bảy cuối tuần được vui cùng gia đình ông bà Tririkin thật ấm cúng. Chị Hòa Bình là dân học ở Liên Xô, về nước năm 1978. Chị đã góp vui bằng những ca khúc vượt thời gian của Nga như: Hàng thùy dương, Đôi bờ, Hy vọng, Thời thanh niên sôi nổi, Chiều ngoại ô Matxcơva, Chiều hải cảng v.v... Vợ chồng ông bà Tririkin như được sống lại những năm tháng “Xô Viết” hào hùng.

Chị Hòa Bình và tôi đã kể cho ông bà nghe những thay đổi và phát triển ở Việt Nam. Khách du lịch đến từ nước Nga hiện nay rất đông. Chúng tôi mời ông bà đi Việt Nam để “trở về nhà”. Tiền vé máy bay thì cậu con trai lo, tất cả chi phí ăn, ở, đi lại tại Việt Nam sẽ do khu du lịch Palmira Resort đài thọ.

Đích thân chị Hòa Bình sẽ dẫn ông bà đi xuyên Việt. Ông bà đã vui vẻ nhận lời và hứa tháng 12-2006 sẽ sang. Ông bảo, “nỗi nhớ Việt Nam chôn chặt hàng chục năm nay trong tâm hồn ông đã được giãi bày, nay con tim ông đã vui trở lại!”.

Trước lúc chia tay, ông bảo chị Hòa Bình thích gì, để ông đem sang. Nghĩ một lát, chị Hòa Bình có hai đề nghị: Nhờ ông đem qua 3 cây bạch dương nhỏ từ khu đất ngoại ô của ông để trồng ở khu du lịch; và ông đem hết tài liệu về Việt Nam mà ông đang lưu giữ để Khu du lịch Palmira Resort làm phòng truyền thống, giữ gìn và trân trọng tình cảm sắt son thủy chung Việt-Xô.

Ông không nói gì, đôi mắt ngấn lệ, nhìn về phía khu rừng bạch dương xa xa như tìm lại tuổi thanh xuân 20 của mình đã từng gắn bó máu thịt với Việt Nam. Vâng, tôi hiểu ông – một tấm lòng Nga đôn hậu đáng quý!

Tháng 8-2006
NGUYỄN QUANG CHÁNH


  • Kính gửi bạn đọc Báo Sài Gòn Giải Phóng
    Xin chúc các bạn hạnh phúc và sức khỏe, những người bạn Việt Nam kính mến!
    Tôi có thời gian không thể quên ở Việt Nam. Ở đó, tôi đã tham gia xây dựng thủy điện “Thác Bà” và Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 1968 và 1973 – 1974.
    Tôi yêu mến Việt Nam và nhân dân Việt Nam.
    Kính trọng.
    Lev Vichtorovich Tririkin
    20-8-2006[/list:u:554bd01d0b]

    http://www.sggp.org.vn/phongsudieutra/2006/9/59902/
 
Tháng 5-1987, chúng tôi dược Đại sứ quán VN tại Moscva triệu tập đến trường nâng cao nghiệp vụ Công đoàn ở thành phố Santưicôpska ngoại ô Moscva. Trong thời gian học, có một diễn giả người Nga nói tiếng Việt khá tốt đến trường và nói chuyện. Qua giới thiệu bản thân mới biết ông tên Thành. là “Việt Minh”, ông là lính của tiểu đoàn 307 ở miền Nam nước ta trong thời kỳ chống Pháp...Ông đã lấy vợ người Việt quê ở Bến Tre.
Đã nhiều lần tôi tìm tài liệu nói về “người công dân danh dự” và con rể chính thức này mà không thấy. Tình cờ tôi tìm thấy bài và ảnh đưa tin về ông qua trang Nhất Nam. Cám ơn tác giả đã đưa tin này mà tôi đã biết ông sinh 1928 và mất ngày 26– 3 – 2003.

[color=red:1df948e77e]Русский воин, прошедший две войны в двух странах [/color]

Он пережил две большие войны: Великую отечественную, которую советский народ вел против немецкого фашизма, и войну Сопротивления против французских колонизаторов во Вьетнаме. Имя этого героического человека – Платон Александрович Скржинский.


Хай Тхань (Платон) в провинции Бэнче, где он жил и воевал во время войны Сопротивления против Французских колонизаторов (1988 год)

В 1940 году, когда Платону Скржинскому было 18 лет, он вступил в Красную Армию и ушел воевать на один из фронтов Великой отечественной войны. В 1942 году он попал в плен и был отправлен в фашистский концлагерь, где фашисты заставляли заключенных выполнять непосильные каторжные работы. Судьба распорядилась так, что в это время он вступил в отряд легионеров французской армии, и в 1946 году был отправлен на Индокитайский фронт. В далеком Вьетнаме бывший солдат Красной Армии глубоко проникся трудностями жизни народа этой колониальной страны, был восхищен его героическим духом в борьбе за свободу. И тогда Скржинский решил перейти на другую сторону фронта. Это было незабываемым решением в его жизни. Он даже точно запомнил дату - 28 июля 1947 г., когда совершил побег из французской армии при помощи пропагандиста Лиги борьбы за независимость Вьетнама (Вьетминь, 1941-51гг.).

Немало трудностей пришлось преодолеть русскому воину, прежде чем он официально стал членом вьетминьской армии. С этого дня товарищи стали звать Платона Скржинского по-вьетнамски – Хай Тхань. Жизнь Скржинского во Вьетнаме была отмечена не только военными воспоминаниями. На этой азиатской земле он встретил свою «половину» – партизанку по имени Май родом из провинции Бэнче. В 1948 году они сыграли свадьбу и год спустя на свет появилась дочь, которую назвали Анной Платоновной Скржинской.

Все это время французы прилагали огромные усилия для розыска высокого вьетминьца-европейца. Скржинскому пришлось покинуть партизанский отряд и перейти в дивизион-герой № 307. Здесь он и встретил радостную весть о победе над французами под Дьенбьенфу, благодаря которой на севере страны была завоевана независимость и восстановлен мир. За боевой дух и заслуги во время войны Сопротивления Платон Скржинский был награжден орденом «Славы».

В 1955 г. перед возвращением на родину Скржинского вместе с дочерью пригласили в резиденцию Президента Хо Ши Мина, где вождь вьетнамской революции принял его, угостил чаем и сладостями. После этой встречи Хо Ши Мин направил письмо Политбюро ЦК КПСС, в котором подтвердил заслуги «товарища Хай Тханя» перед вьетнамской революцией и выразил пожелание, чтобы П.А.Скржинскому выдали въездную визу в СССР, что и было сделано.

Вернувшись на родину, Платон Скржинский стал работать диктором и переводчиком вьетнамской редакции на московском радио и растить дочь.

Судьба этого героического воина, полная невзгод, еще раз привела его во Вьетнам в 1988 году, когда по случаю 40-летия со дня основания 307-го дивизиона Скржинский вместе с несколькими товарищами был приглашен во Вьетнам. Он встретился с бывшими однополчанами, побывал на родине покойной жены, зажег благовонные палочки на ее могиле.

П. А. Скржинский навечно ушел от нас 26-го марта 2003 г. Но его имя и его подвиги были записаны в историю двух народов, как свидетельство интернационализма, духа сплоченности и взаимопомощи разных народов в борьбе против своих врагов.

Диктор, переводчик вьетнамского языка радио «Голос России» Анна Скржинская недавно вышла на пенсию. Она с большой теплотой говорит о своем отце: «Я горжусь, что мне выпала честь родиться дочерью своего отца. Он отдал все свои силы ради победы под Дьенбьенфу – родине моей матери».

Trang Nhất Nam có rất nhiều bài và ảnh trong mục quan hê Nga Việt.
To: Tykva- cám ơn em đã đưa bài và ảnh gửi tới Nhất Nam-vì vô tình thấy tykva trông đó nên đã tò mò xem, càng xem càng thấy Việt Nga không có khoảng cách.
 
Bác ui, có bài này về ông Platon Thành nữa này
http://www.bentre.gov.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=241&Itemid=47

Nguyễn Văn Thành

Ngày 17-8-1947, một người lính lê-dương trong quân đội Pháp chiếm đóng tại BếnTre, qua đường dây của cơ sở địch vận của ta, đã mang vũ khí sang hàng ngũ kháng chiến. Người hàng binh ấy nguyên là một hồng quân Liên Xô bị bọn phát xít Đức bắt làm tù binh, và cuộc chiến tranh đã đưa đẩy anh vào quân đội viễn chinh Pháp hoạt động ở chiến trường Việt Nam.

Anh tên là Skrinski Platon Alekxandrovich, sinh năm 1922 tại Ucraina. Sau khi tốt nghiệp trung học hệ 10 năm, anh gia nhập hồng quân Liên Xô năm 1941. Mùa xuân 1942, trong một cuộc bao vây của quân Đức tại mặt trận Khaccốp, anh cùng đơn vị bị bắt làm tù binh tại Đan Mạch, thì bị động viên vào đội quân lê-dương của Pháp.

Tháng 4-1946, anh bị đưa sang chiến trường Đông Dương và đã từng đóng quân ở nhiều nơi: Sài Gòn, Thủ Đức, Sa Đéc, Vĩnh Long, Bến Tre. Sống trong đội quân xâm lược, từng chứng kiến hằng ngày những hành động cướp bóc, đốt phá, hãm hiếp dã man của đám lính Âu Phi, anh đã dần dần hiểu ra tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh do bọn Pháp tiến hành, mà anh chỉ là một con "tốt" đánh thuê không hơn, không kém. Bản thân anh cũng đã từng nếm trải những nỗi nhục nhằn, cay đắng trong các trại tù binh của phát xít Đức, cho nên khi có điều kiện, anh thường tìm mọi cách để giúp đỡ những người Việt Nam bị địch bắt, bị tra tấn, giam cầm.

Cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân ta nhằm giải phóng đất nước đã có tác động khơi dậy ý thức của người lính Xô-viết năm xưa trong con người Platon Alekxandrovich và giúp anh thấy rõ con đường phải chọn là nhanh chóng thoát khỏi kiếp lính đánh thuê, đứng về phía hàng ngũ của những ngừoi kháng chiến trên một chiến trường nhiệt đới còn xa lạ đối với anh lúc bấy giờ.

Khi ở Vĩnh Long, anh đã bắt liên lạc với cơ sở hoạt động bí mật ở thị xã, nhưng rủi thay, chưa kịp hành động thì cơ sở này bị vỡ, nhiều người bị địch bắt, bị tra tấn rất dã man. Thế là anh đứt mất liên lạc. Sau đó, anh được điều sang chiến trường Bến Tre. Tại đây, anh đã tìm cách liên lạc được với cơ sở cách mạng và ngày 17-8-1947, anh mang vũ khí ra vùng tự do. Tại đây, anh được phân công về công tác ở đội công tác 1, đơn vị hoạt động ở thị xã Bến Tre và vùng ven, cũng tại đây, anh mang cái tên Việt Nam là Nguyễn Văn Thành, hay như đồng đội và đồng bào quen gọi anh là "Thành Nga" hay Hai Thành. Anh đã tham gia chiến đấu hàng chục trận lớn, nhỏ.

Vốn điềm đạm, cần cù, tận tụy trong công tác, nên "Thành Nga" không những được đồng đội tin cậy mà còn được dân thương yêu, quý mến. Một người con gái ở Mỹ Thạnh An – nay thuộc thị xã Bến Tre – tên là Colette Mai đã đem lòng yêu anh, và hai người được sự giúp đỡ của toàn thể đơn vị và đoàn thể địa phương, trở thành vợ chồng. Lễ cưới được tổ chức tại xã Nhơn Thạnh. Trong ngôi nhà cột cây, vách lá do đồng bào góp công, góp sức xây dựng nên trong hoàn cảnh chiến tranh, họ sống với nhau khá hạnh phúc. Và cũng tại nơi đây, tháng 8-1949, cô con gái đầu lòng Janie ra đời. Bến Tre lúc này bị địch tăng cường càn quét, ruồng bố liên miên, đồn bót mọc lên chi chít khắp nơi. Hoạt động và đi lại của bộ đội và cán bộ ta ngày một khó khăn. Để đảm bảo sự an toàn cho hai mẹ con, buộc lòng tổ chức phải tìm cách đưa vợ con anh về sống hợp pháp ở thị xã, còn Hai Thành cũng chuyển công tác về một đơn vị trợ chiến thuộc trung đoàn Cửu Long, hoạt động ở vùng Trà Vinh.

Đến đầu năm 1953, anh tình nguyện xin về tiểu đoàn 307, được phân công làm khẩu đội trưởng súng cối 60 mm và tham gia chiến đấu ở đơn vị này cho đến ngày đình chiến (7-1954).

Trong thời gian chuyển quân tập kết, anh được phân công làm công tác phiên dịch trên tàu Xtarôpôn của Liên Xô ra Bắc vào Nam nhiều chuyến, sau đó trở về công tác tại đơn vị cũ lúc bấy giờ đóng tại Thanh Hóa. Cháu Janie cũng được đưa ra thủ đô Hà Nội, được chăm sóc chu đáo. Bản thân anh Hai Thành, sau đó cũng đã sống cùng với con gái một thời gian trong một ngôi nhà bên bờ Hồ Tây (Hà Nội).

Ngày 10-5-1955, theo sự thỏa thuận của hai chính phủ Việt Nam và Liên Xô, Nguyễn Văn Thành được về lại quê hương của mình cùng với cô con gái mang hai dòng máu Việt – Xô: Janie. Sau khi về nước, anh nhận công tác ở Ban tiếng Việt của Đài phát thanh Matxcơva cho đến khi về hưu. Anh cũng là người dịch và giới thiệu quyển Vượt Côn Đảo của Phùng Quán với độc giả Liên Xô.

Cô con gái của anh, sau khi tốt nghiệp ở Trường Đại học Tổng hợp Matxcơva, cũng đã nối tiếp theo con đường của bố, xin về làm ở Ban tiếng Việt, Đài phát thanh Matxcơva. Trong dịp Tết Quý Mão (1988), Janie (lúc này đã 38 tuổi) đã có dịp sang Việt Nam, về thăm lại quê ngoại Bến Tre, viếng mộ mẹ và bà ngoại, gặp lại những người thân đã từng chăm sóc, nuôi nấng bé Janie từ những năm gian khổ chiến tranh. Chuyến đi này đã để lại ở Janie nhiều xúc động sâu sắc về những tình cảm thương yêu quý mến của những người ruột thịt, những người đồng hương và cả những người đồng chí Việt Nam đã từng chiến đấu với cha mình trong đơn vị tiểu đoàn 307 nổi tiếng một thời của những năm chống Pháp ở chiến trường Nam Bộ.

Cuộc đời của Platon Alekxandrovich đầy những gian truân, nhưng cũng trải qua không ít may mắn kỳ lạ, giống như một huyền thoại. Một phần cuộc đời của anh gắn bó chặt chẽ với cuộc chiến đấu anh hùng của nhân dân Việt Nam với cái tên Hai Thành hay "Thành Nga", và nó đã trở thành một sự kiện đáng ghi nhớ, một bông hoa đẹp làm thắm tươi thêm tình cảm hữu nghị của hai dân tộc Việt – Xô.
 
Các bài viết về ông Hai Thành trên các báo của Việt Nam trước đây em đã đọc được vài lần, chủ yếu là trên báo in, có cả ảnh hẳn hoi. Nay thì chẳng nhớ ở đâu mà tìm nữa. Tìm trên mạng tạm thời chỉ thấy có 1 bài trên thôi mà cũng chả có ảnh gì cả bác ạ.
==========
Vừa pót song pót này thì thấy thêm một link nữa có đoạn văn sau trích trong "Thời gian trong mắt tôi" của tác giả Trần Hữu Nghiệp (nxb Văn Nghệ - 1993):
http://www.viet-studies.org/THNghiep_9.htm

"...Sáng hôm sau ngày Bác Tôn nhận giải thưởng Lênin, một phóng viên Đài phát thanh Liên Xô nói thạo tiếng Pháp đi với một nhân viên sứ quán Việt Nam đến khách sạn, xin phỏng vấn ghi âm. Đưa câu hỏi ghi sẵn cho Bác, người bạn Nga nói chuyện chơi với tôi bằng Pháp ngữ. Khi biết tôi quê từ Nam Bộ tập kết ra Bắc, anh bạn hỏi tôi thời còn đánh Pháp có quen một người Nga tên Thành không? Tôi mừng quá, trả lời ngay: đó là trung đội trưởng khẩu pháo 35 ly của tiểu đoàn 307, bạn của ở Bến Tre, lần nào về quân y viện cũng đến chơi với tôi. Đồng chí ấy cho biết: Thành đổi tên ra Platon, hiện nay làm việc chung với anh ở Đài phát thanh Mátxcơva, bộ phận tiếng Việt. Nói xong, anh đến quày điện thoại, và sau một tràng tiếng Nga ngoắt tay bảo tôi đến có người muốn nói chuyện. Đúng là tiếng nói của Thành, chú rể tỉnh Bến Tre mà gần 10 năm trước chúng tôi đã lo vợ cho.
Rồi luôn luôn có quan hệ bạn bè, cho đến năm 1951 khi quân khu 8 bị giải thể và tôi về công tác ở miền Tây Nam Bộ. Thành tiếc rằng tôi phải đi theo Bác Tôn bằng không kéo tôi về nhà ở ngoại ô, cách 40 cây số...."
 
Back
Top