G
Guest
Guest
Xin chào các bạn!
Tôi mạn phép được phát biểu một số suy nghĩ cá nhân của mình về vấn đề chất lượng học và dạy tiếng Nga nói riêng, và tiếng nước ngoài nói chung ở Việt Nam. Theo tôi, mỗi chúng ta, theo cách này hay cách khác, đều là những nhà ngôn ngữ học. Không có kiến thức hoàn hảo về ngôn ngữ chúng ta không thể lĩnh hội được thông tin. Không có thông tin chính xác, hoạt động của chúng ta sẽ dẫn tới tình trạng mất trật tự.
Thực tế là đại đa số người Việt hiện đại nói tiếng nước ngoài rất tồi. Từ các phát thanh viên truyền hình, các nhà ngoại giao , các nhà ngôn ngữ học chuyên môn, giảng viên các trường đại học chuyên ngữ, cho đến các sinh viên, thực tập sinh, phó tiến sỹ, tiến sỹ tại Nga... Về nội dung, ngoại ngữ được người Việt nói trong trường hơp tốt nhất là sao chép sách vở, cứng nhắc, còn thường khi với những liên tưởng mang tính cá nhân riêng biệt lập dị tới mức không ai hiểu được trừ anh ta; ngoại ngữ qua cửa miệng của người Việt thường khi nhạt nhẽo, nhàm tản. Ngôn ngữ không thể hay nếu không chuyên tải thông tin độc đáo. Và hiển nhiên, hình thức bộc lộ rõ tất cả "nội dung" kể trên.
Trong khi đó, có một thực tế khác là đến tận bây giờ, mặc dù Indochina đã kết thúc sự tồn tại ở Việt Nam suốt từ năm 1954, chúng ta vẫn có thể tìm thấy được rất nhiều người Việt đọc thông viết thạo tiếng Pháp. Trong số nhà của gia đình chúng tôi trước đây ở Hà Nội có bốn gia đình trí thức từ thời thuộc địa, và nhiều người trong số họ vẫn còn sống, và trong gia đình họ tiếp tục giao tiếp với nhau bằng tiếng Pháp.
Điều đó phủ nhận ý kiến cho rằng về mặt gen người Việt không có khả năng học tiếng nước ngoài như một số khách du lịch Nga đã khẳng định sau chuyến thăm Việt Nam.
http://allplanet.ru/bb/viewtopic.php?t=20&sid=8d7f785a4e8a09dece7559fd672a1c2b
Vậy phải giải thích tại sao người Việt đương đại nói tiếng nước ngoài tồi như vậy?
Theo tôi, có rất nhiều nguyên nhân. Cả chủ quan lần khách quan.
Nguyên nhân chủ quan từ phía Việt nam, hiển nhiên, là chất lượng giáo dục. Nền giáo dục Việt Nam bắt đầu từ cái không đúng chỗ, vì thế bộ máy hoạt động của nó chỉ có thể tập tễnh trên đôi chân thọt. Nếu tôi là bộ trưởng Bộ Giáo dục, tôi sẽ đưa ngay vào chương trình giáo dục phổ cập một bộ môn giáo dục thẩm mỹ-nghi lễ cho các học sinh lớp một. Bộ môn này có chức năng giáo dục cho các em các nghi lễ cần thiết để thể hiện những giá trị thẩm mỹ mà một người biết tôn trọng mình, có ý thức về nhân phẩm của mình, phải làm: cách đi, cách đứng, cách ăn, mặc, nói năng... Khi các em ngay từ tuổi thơ ấu được giáo dục, thế nào là vẻ đẹp của những âm tiết thoát ra từ cửa miệng mình, được chỉ dẫn cách phát âm, nhả lời thế nào cho đúng, thì những công dân như thế trong tương lai sẽ tự mình làm mọi việc còn lại. Những công dân như thế sẽ không bao giờ cho phép mình "chế biến" ra những "sản phẩm" như hiện tại chúng ta đang có. Hiện tại bộ Giáo dục Việt Nam thậm chí không đủ năng lực giải quyết vấn đề CHUẨN MỰC HÓA TIẾNG VIỆT trong điều kiện tồn tại sự đa dạng của các vùng thổ ngữ đặc thù ở Việt Nam, dẫn tới tình trạng phong hoại, "rác rưởi" hóa ngôn ngữ, trà đạp ngôn ngữ thay vì nâng niu, giữ gìn nó như di sản của văn hóa dân tộc. Không thể tách dời vấn đề giáo dục văn hóa với giảng dạy ngoại ngữ. Người Việt không thể học được tiếng nước ngoài, khi họ đối xử với tiếng Việt thiếu sự tôn trọng cần thiết.
Nguyên nhân chủ quan thứ hai là sự chênh lệch về mức độ phát triển của xã hội người học tiếng, và xã hội của ngoại ngữ được học. Vật chất quyết định ý thức. Vào thời cha mẹ chúng tôi học tiếng Nga, miệng "ra rả" những từ "телефон", "газ", "лифт"..., сòn trong đầu thì kiến thức về chúng là zero: ở Việt Nam thì lấy đâu ra "телефон", "газ", "лифт" trong đời sống những người dân bình thường vào những năm 80. Ở VN bây giờ có tất cả những thứ đó, song thế giới không có nghĩa là trong thời gian này đã đứng khoanh tay đợi Việt Nam. Còn những người Việt có khả năng thực sự, học song ở nước ngoài, lại thường quyết định không trở về nước.
Còn nguyên nhân khách quan trong trường hợp học tiếng Nga là, nếu bạn có thể thậm chí tự học ngữ pháp và nói tiếng Anh chuẩn ở bất cứ nơi nào trên trái đất nhờ sự phát triển cao của công nghiệp sản xuất giáo trình dạy tiếng Anh đủ cung cấp cho bạn bất cứ tài liệu chuyên môn nào, thì đến tận giờ, nước Nga vẫn không thể có một từ điển lồng tiếng (озвученный словарь), hoặc từ điển phối hợp từ - những công cụ có khả năng giúp bạn đắc lực nhất về phát âm và xây dựng câu. Điều đó giải thích chất lượng học tiếng Nga không cao không chỉ ở Việt Nam.
Khó khăn cũng là thách thức cho thanh niên Việt Nam.
Song nếu không có cách nhìn nhận và giải quyết vấn đề toàn diện, tân gốc rễ, thì những thay đổi chỉ mang tính tạm bợ.
Tôi mạn phép được phát biểu một số suy nghĩ cá nhân của mình về vấn đề chất lượng học và dạy tiếng Nga nói riêng, và tiếng nước ngoài nói chung ở Việt Nam. Theo tôi, mỗi chúng ta, theo cách này hay cách khác, đều là những nhà ngôn ngữ học. Không có kiến thức hoàn hảo về ngôn ngữ chúng ta không thể lĩnh hội được thông tin. Không có thông tin chính xác, hoạt động của chúng ta sẽ dẫn tới tình trạng mất trật tự.
Thực tế là đại đa số người Việt hiện đại nói tiếng nước ngoài rất tồi. Từ các phát thanh viên truyền hình, các nhà ngoại giao , các nhà ngôn ngữ học chuyên môn, giảng viên các trường đại học chuyên ngữ, cho đến các sinh viên, thực tập sinh, phó tiến sỹ, tiến sỹ tại Nga... Về nội dung, ngoại ngữ được người Việt nói trong trường hơp tốt nhất là sao chép sách vở, cứng nhắc, còn thường khi với những liên tưởng mang tính cá nhân riêng biệt lập dị tới mức không ai hiểu được trừ anh ta; ngoại ngữ qua cửa miệng của người Việt thường khi nhạt nhẽo, nhàm tản. Ngôn ngữ không thể hay nếu không chuyên tải thông tin độc đáo. Và hiển nhiên, hình thức bộc lộ rõ tất cả "nội dung" kể trên.
Trong khi đó, có một thực tế khác là đến tận bây giờ, mặc dù Indochina đã kết thúc sự tồn tại ở Việt Nam suốt từ năm 1954, chúng ta vẫn có thể tìm thấy được rất nhiều người Việt đọc thông viết thạo tiếng Pháp. Trong số nhà của gia đình chúng tôi trước đây ở Hà Nội có bốn gia đình trí thức từ thời thuộc địa, và nhiều người trong số họ vẫn còn sống, và trong gia đình họ tiếp tục giao tiếp với nhau bằng tiếng Pháp.
Điều đó phủ nhận ý kiến cho rằng về mặt gen người Việt không có khả năng học tiếng nước ngoài như một số khách du lịch Nga đã khẳng định sau chuyến thăm Việt Nam.
http://allplanet.ru/bb/viewtopic.php?t=20&sid=8d7f785a4e8a09dece7559fd672a1c2b
Vậy phải giải thích tại sao người Việt đương đại nói tiếng nước ngoài tồi như vậy?
Theo tôi, có rất nhiều nguyên nhân. Cả chủ quan lần khách quan.
Nguyên nhân chủ quan từ phía Việt nam, hiển nhiên, là chất lượng giáo dục. Nền giáo dục Việt Nam bắt đầu từ cái không đúng chỗ, vì thế bộ máy hoạt động của nó chỉ có thể tập tễnh trên đôi chân thọt. Nếu tôi là bộ trưởng Bộ Giáo dục, tôi sẽ đưa ngay vào chương trình giáo dục phổ cập một bộ môn giáo dục thẩm mỹ-nghi lễ cho các học sinh lớp một. Bộ môn này có chức năng giáo dục cho các em các nghi lễ cần thiết để thể hiện những giá trị thẩm mỹ mà một người biết tôn trọng mình, có ý thức về nhân phẩm của mình, phải làm: cách đi, cách đứng, cách ăn, mặc, nói năng... Khi các em ngay từ tuổi thơ ấu được giáo dục, thế nào là vẻ đẹp của những âm tiết thoát ra từ cửa miệng mình, được chỉ dẫn cách phát âm, nhả lời thế nào cho đúng, thì những công dân như thế trong tương lai sẽ tự mình làm mọi việc còn lại. Những công dân như thế sẽ không bao giờ cho phép mình "chế biến" ra những "sản phẩm" như hiện tại chúng ta đang có. Hiện tại bộ Giáo dục Việt Nam thậm chí không đủ năng lực giải quyết vấn đề CHUẨN MỰC HÓA TIẾNG VIỆT trong điều kiện tồn tại sự đa dạng của các vùng thổ ngữ đặc thù ở Việt Nam, dẫn tới tình trạng phong hoại, "rác rưởi" hóa ngôn ngữ, trà đạp ngôn ngữ thay vì nâng niu, giữ gìn nó như di sản của văn hóa dân tộc. Không thể tách dời vấn đề giáo dục văn hóa với giảng dạy ngoại ngữ. Người Việt không thể học được tiếng nước ngoài, khi họ đối xử với tiếng Việt thiếu sự tôn trọng cần thiết.
Nguyên nhân chủ quan thứ hai là sự chênh lệch về mức độ phát triển của xã hội người học tiếng, và xã hội của ngoại ngữ được học. Vật chất quyết định ý thức. Vào thời cha mẹ chúng tôi học tiếng Nga, miệng "ra rả" những từ "телефон", "газ", "лифт"..., сòn trong đầu thì kiến thức về chúng là zero: ở Việt Nam thì lấy đâu ra "телефон", "газ", "лифт" trong đời sống những người dân bình thường vào những năm 80. Ở VN bây giờ có tất cả những thứ đó, song thế giới không có nghĩa là trong thời gian này đã đứng khoanh tay đợi Việt Nam. Còn những người Việt có khả năng thực sự, học song ở nước ngoài, lại thường quyết định không trở về nước.
Còn nguyên nhân khách quan trong trường hợp học tiếng Nga là, nếu bạn có thể thậm chí tự học ngữ pháp và nói tiếng Anh chuẩn ở bất cứ nơi nào trên trái đất nhờ sự phát triển cao của công nghiệp sản xuất giáo trình dạy tiếng Anh đủ cung cấp cho bạn bất cứ tài liệu chuyên môn nào, thì đến tận giờ, nước Nga vẫn không thể có một từ điển lồng tiếng (озвученный словарь), hoặc từ điển phối hợp từ - những công cụ có khả năng giúp bạn đắc lực nhất về phát âm và xây dựng câu. Điều đó giải thích chất lượng học tiếng Nga không cao không chỉ ở Việt Nam.
Khó khăn cũng là thách thức cho thanh niên Việt Nam.
Song nếu không có cách nhìn nhận và giải quyết vấn đề toàn diện, tân gốc rễ, thì những thay đổi chỉ mang tính tạm bợ.