Truyện ngắn của Nguyễn Đình lâm

cuvina

New member
Cậu đã đọc cuốn này chưa?
Thằng bạn Tôi chìa cho Tôi xem một cuốn sách màu vàng vàng. cuốn sách mỏng chừng hơn 100 trang . không có vẻ gì đặc biệt cả. nhưng cái tên của bìa của nó bỗng chốc làm Tôi thấy tò mò : “ Con kiến tật nguyền “ đã là thân phận bé nhỏ của con kiến mà lại còn thêm tật nguyền (?)
Tác giả đang muốn nói về cái gì đây (?) liếc xuống phía dưới hàng chữ nhỏ “ Nhà xuất bản sáng tạo Matxcơva-2004 (?) sách của dịch Nga (?). không ! hàng chữ trên cùng đề tên tác giả Nguyễn đình lâm. Rõ ràng tên người Việt đấy chứ (!)… Dường như để chờ cho cái sự tò mò kia lan khắp, thấm sâu hết tận các tế bào trên người Tôi ,lúc đó Thằng bạn Tôi mới lên tiếng vẻ trịnh trọng :- cầm về nhà mà đọc !
-Lại còn chờ để Ông cho mượn !
Tôi trề môi.
Thực ra chẳng cần chờ tới “ về nhà” . Ngồi ở nhà thằng bạn Tôi đã kịp nghiến ngấu liền một mạch. Cuốn sách gồm 15 truyện ngắn thật lôi cuốn , thật ấn tượng . nó mãi mãi ám ảnh Tôi qua những nhân vật của mình. những nhân vật rất đời thường , rất gần gũi như chính Tôi đã từng gặp họ đâu đó trên đât Nga.
Hôm nay đang “lướt web” Tôi lại vô tình gặp một truyện ngắn của tác giả này trên : http://www.dddn.com.vn/Desktop.aspx/TinTuc/CLB-DoanhNhan Mong các Bạn cùng đọc !
 
Làng Chờ
10:33' AM - Thứ ba, 17/01/2006


Mãi rồi cả bọn cũng thực hiện được tâm nguyện của mình: về ăn Tết ở quê sau bao năm bôn ba kiếm sống ở xứ người. Nói câu về ăn Tết ở quê, nghe thì đơn giản, nhưng thực ra để làm được chuyện đó phải là sự cố gắng, sự sắp xếp về công việc của cả nhóm.
Phong hiện đang là giám đốc điều hành của một trung tâm thương mại lớn của Moscow. Những công việc không tên của anh cứ triền miên nối nhau từ ngày này qua ngày khác. Tháng Tết ở quê thường đúng vào tháng phức tạp nhất ở Nga. Đó là những tháng sau Tết dương lịch - tháng kiểm tra của các cơ quan chức năng. Hết cơ quan thuế vụ, công an kinh tế lại đến lại kiểm tra. Phong chạy ngược chạy xuôi tất bật.
Sơn sang Ba Lan từ những năm 90. Từ một anh chàng buôn bán cò con, mấy cái quần bò, mấy cái áo phông, nay đã trở thành một chủ hàng lớn, có uy tín trong cộng đồng người Việt tại Ba Lan. Những chuyến hàng của anh từ Thổ Nhĩ Kỳ, Việt Nam... đều đều đổ vào Ba Lan và được phân phối cho các chợ có người Việt Nam buôn bán. Mấy lần nhấp nhổm định về nhưng sợ nhỡ chuyến hàng nên đành chịu.
Thắng thì đơn giản hơn. Tốt nghiệp đại học tổng hợp, anh về làm cán bộ Sở Văn hoá - Thông tin thành phố, công việc cũng không phức tạp. Hơn nữa bố mẹ vợ con đang ở quê, nên việc về quê ăn Tết chẳng khó khăn gì.
Cũng phải mất khá nhiều tiền điện thoại, mọi kế hoạch mới được hoàn thiện. Hai lần lên sân bay, ba thằng mới gặp được nhau đầy đủ sau hơn 10 năm xa cách. Vỗ vai nhau thùm thụp, ngắm nhìn những mái đầu đã chuyển sang màu muối tiêu của nhau, rồi phá lên cười sảng khoái.
Thăm chơi Hà Nội một ngày, mua sắm một ít quà Tết, chiều 27 Tết, cả bọn ra bến xe Yên Phụ thẳng đường về quê. Phong và Sơn háo hức nhìn những thay đổi của làng quê dọc đường với sự ngạc nhiên và thích thú. Cả bọn nhảy vội xuống xe khi cây xoài đã rất già đứng ở đầu làng hiện ra thấp thoáng. Những con đường quen, những đồng lúa, những con mương nhỏ bùi ngùi gợi lại cho mọi người những kỷ niệm không quên của thời thơ ấu.
Bố mẹ, vợ và mấy đứa con của Thắng chạy ùa ra, tíu tít mừng rỡ. Bố Thắng nhìn quanh, rồi hỏi:
- Các con về ăn Tết thế này là các ông bà mừng lắm. Vợ con của Phong và Sơn đâu mà không đưa về ăn Tết?
Phong trầm giọng:
- Vợ chồng chúng cháu đã ly hôn được mấy năm rồi. Cháu Nam sang Nga đã được mấy năm, đang học đại học năm thứ hai ở bên đó, không về được vì đang mùa thi cử.
- Còn vợ cháu cũng không về được vì phải trông bọn trẻ đi học. - Sơn tiếp lời.
Đêm 28 Tết cả ba tụ tập ngồi trông nồi bánh chưng như thời còn đi học. Đứa chẻ củi, đứa xách nước, trong ánh lửa bập bùng, tiếng nước sôi sùng sục, cả ba bồi hồi kể lại những kỷ niệm ngày xưa. Khi chuyện xưa đã vãn, Sơn hỏi:
- Quê mình có gì mới lạ không?
Thắng nghĩ một lúc, rồi kể:
- Có một chuyện lạ mà mình chỉ mới nghe chứ chưa được thấy. Đó là từ mấy năm trước đây, ở xã bên hình thành một làng mới tự đặt tên là làng Chờ. Làng có khoảng 30 nóc nhà gì đấy. Chủ nhân của các ngôi nhà này đều là phụ nữ độc thân. Tuy không có chồng, nhưng ai cũng muốn có một đứa con cho vui cửa vui nhà, bởi vậy có những người đàn ông đến rồi lại đi. Để lại những mầm sống lớn lên mà không biết mặt bố. Cũng có người muốn xây dựng gia đình với một cô trong làng đó. Đám cưới vẫn được tiến hành bình thường, nhưng sau đó hai vợ chồng mới phải đi ra khỏi làng để tất cả chị em còn lại đều độc thân cùng sống và cùng chờ đợi. Cũng có nhiều người đàn ông xuống đó, có người vì tò mò, có người vì sự thương xót, cảm thông nên xuống giúp đỡ chút ít vật chất hoặc tinh thần cho làng. Tuy mục đích khác nhau nhưng khi xuống đó tất cả dều xử sự giống nhau: không một ai khoe mình đang có một gia đình hạnh phúc, con cái học hành giỏi giang vì họ hiểu rằng mình càng khoe gia đình hạnh phúc bao nhiêu thì người nghe càng tủi thân, càng đau lòng cho bản thân bấy nhiêu.
Cả bọn cùng thở dài. Một lúc sau, Sơn cất tiếng phá tan sự im lặng nặng nề đang bao trùm:
- Ngày mai chúng ta xuống đó một chuyến xem thực hư câu chuyện thế nào. Sang bên kia mới có chuyện lạ mà kể cho bạn bè nghe chứ.
Tất cả gật đầu tán thành.
Buổi trưa ngày hôm sau, khi mặt trời gần đứng bóng thì hai chiếc xe máy đưa cả bọn đến con đường dẫn vào làng Chờ. Làng năm ở một góc cuối xã. Đó là một dải đất tách biệt được nối với xã bằng con đường nhỏ, che nắng cho con đường là những hàng cây bạch đàn xanh mơn mởn đang độ lớn.
Mọi người hồi hộp khi bước chân vào cổng làng. Gọi là làng, nhưng các ngôi nhà được dựng lên trong những ô đất vuông vắn với diện tích gần như bằng nhau theo hình bàn cờ như ở trên phố huyện. Tuy các ngôi nhà to nhỏ khác nhau, nhưng ngôi nhà nào cũng xinh xắn và được bao bọc bởi vườn cây xanh gồm những cây ổi, cây na đang đung đưa trong nắng những quả chín đầu mùa. Những bụi chuối với những tàu lá to che nắng cho lũ gà con đang bới đất. Khung cảnh thật bình yên.
Đắn đo một lúc, cả bọn quyết định gõ cửa ngôi nhà đầu tiên. Đón khách là một phụ nữ trạc 40 tuổi, giản dị trong bộ quần áo màu hoàng yến. Biết khách đến thăm làng, chị tự giới thiệu là phó chủ tịch xã và là người khởi xướng ra việc thành lập làng Chờ. Chị kể về ý tưởng thành lập một cái làng chỉ dành riêng cho những người có hoàn cảnh độc thân như chị. Lãnh đạo của xã cũng thông cảm và ủng hộ. Cũng không ai ngờ dân số của làng lại phát triển nhanh như vậy. Lúc đầu làng chỉ có năm nhà, một thời gian sau làng phát triển rất nhanh khi những người phụ nữ đến từ những vùng khác nhau, trong xã, trong huyện và có cả những người từ tỉnh khác tới. Mặc dầu mỗi người làm một việc khác nhau: người này làm ruộng, người kia làm thợ, người khác làm nghề dạy học... nhưng họ gắn bó với nhau, thương yêu nhau vì cùng chung cảnh ngộ. Ai cũng muốn có một đứa con để vui cửa vui nhà, người nào may mắn có người hỏi về làm vợ thì cả làng tổ chức ăn mừng rất lớn để tiễn đưa.
Một thằng bé đen trũi lịch bịch chạy về, chị vui vẻ giới thiệu:
- Con trai tôi đấy, mấy năm trước bố cháu tình cờ qua đây rồi sinh ra nó. Bố cháu tên là Đường, tôi đặt tên nó là Mật, đặt thế cho cuộc đời ngọt ngào hơn.
Nhìn chị vuốt ve những sợi tóc quăn tít của thằng bé, lòng mọi người như se lại. Thấy anh ngắm nghía dãy râm bụt bên nhà hàng xóm, chị nói như khoe:
- Nhà cô giáo Ngần đấy, cô ấy là giáo viên dạy giỏi đấy nhé, cô ây rất thích trồng râm bụt và chỉ thích sống một mình.
Phong bỗng thấy hồi hộp, anh hỏi vội vàng:
- Trước khi về đây dạy học, cô ấy làm gì?
- Nghe đâu trước đây cô ấy lao động ở bên Đức, về xin làm nghề cũ, rồi xuống đây ở luôn.
Không chờ chị nói hết, Phong chạy ào sang nhà hàng xóm trước những con mắt ngơ ngác của mọi người. Đẩy cánh cổng khép hờ, anh vội vào sân, rồi gõ gấp gáp vào cửa gỗ. Một cô gái chầm chậm bước ra, mắt nheo nhoe vì nắng. Anh nhìn cô. Cô nhìn anh một lúc, rồi cả người cô rung lên, mặt mày tái mét, run run vịn vào thành cửa cho khỏi ngã. Phong lao đến, đỡ lấy cô, anh nói thì thầm với cô như nói một mình:
- Ngần ơi! Sao em lại ở đây để anh tìm mãi?
Phong thấy mái tóc mượt mà đang phủ lên vai anh và màu sắc đỏ của những bông hoa râm bụt thân thuộc với anh biết chừng nào...
Còn nữa
TS Nguyễn Đình Lâm - Tổng Giám đốc TTTM Sông Hồng - Moscow
 
Làng Chờ (Phần 2)
09:46' AM - Thứ năm, 19/01/2006


... Khu tập thể giáo viên là một ngôi nhà lợp giấy dầu, giữa các phòng được ngăn cách bởi những bức vách bằng nứa. Nằm trên sườn đồi thoai thoải cạnh trường cấp ba huyện. Bao bọc quanh sân là những hàng râm bụt luôn khoe sắc màu đỏ thắm và phô bày những nhụy vàng tươi. Ngoài đường dốc là những hàng xương rồng đã có nhiều năm tuổi, Phong vẫn không hiểu vì sao người ta không thay nó bằng những loại khác đẹp hơn. Trong khu tập thể nhà trường, phòng của anh được ưu tiên với diện tích 18 mét và mấy mét bên cạnh để làm một cái bếp con con. Anh là tổ trưởng tổ bộ môn. Vợ anh đi thực tập ở nước ngoài. Con anh còn nhỏ, thằng bé vừa mới lên ba. Anh ở trong cảnh gà trống nuôi con. Cuối tháng mất rất nhiều thì giờ để xếp hàng mua dầu, mua gạo. Dù vất vả như vậy, nhưng anh vẫn luôn là giáo viên dậy giỏi. Hàng xóm của anh bên kia bức vách bằng nứa là cô giáo Ngần vừa mới tốt nghiệp năm ngoái, đang trong thời gian tập sự. Ngần xinh xắn, hiền lành, có giọng nói truyền cảm làm cho lũ học trò rất thích những giờ giảng của cô. Với đức tính ham học hỏi, nên lúc rỗi rãi cô thường dự các giờ dạy của anh để học kinh nghiệm. Cô rất thích các bài giảng của anh, sâu sắc và phong phú. Âën tượng đầu tiên đọng mãi trong cô là lần nghe anh bình bài thơ "Tống biệt hành" của Thâm Tâm:
Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Những tình cảm nhớ thương, những nét buồn của tác giả được anh dùng các thủ pháp nghệ thuật phân tích bật lên qua các cụm từ "tiếng sóng ở trong lòng", "hoàng hôn trong mắt trong". Giọng nói trầm ấm và truyền cảm của anh đã gieo vào lòng cô những tình cảm mới lạ, bâng khuâng.
Ngần quý anh, quý tài năng của anh, quý luôn cả thằng con trai của anh. Buổi chiều rảnh rỗi cô thường chạy sang nhà anh giúp cho thằng bé ăn, tắm cho nó và chơi đùa cùng nó. Anh nhìn cô bằng ánh mắt trìu mến đầy vẻ biết ơn. Có cô, anh được có thêm thời gian đọc sách, trau dồi thêm về chuyên môn. Vợ anh là cô gái có nhiều tham vọng, tốt nghiệp khoa tiếng Nga cùng trường sư phạm với anh. Cô được giữ lại trường làm phụ giảng. Từ đó cô vùi đầu vào công việc nghiên cứu, đọc sách. Mọi việc nhà một mình anh gánh vác. Cách đây một năm, cô đươc nhà trường cử đi thực tập tiếng Nga ở Viện Puskin. Cô ra đi vui vẻ với viễn cảnh tương lai đang mở ra trước mắt. Cô không nhận thấy những nét buồn trong mắt anh và tiếng khóc nằng nặc đòi mẹ của thằng bé.
Từ nhỏ thằng bé ít được ôm ấp trong vòng tay ấm áp của mẹ, ít được nghe những lời âu yếm, vì vậy Ngần đã trở thành người gần gũi nhất của nó, và dần dần cô trở thành một thành viên trong nhà anh.
Người ta thường nói "mưa dầm thấm lâu", tình cảm của Ngần như những giọt nước làm dịu mát tâm hồn đang ngày một khô đi của Phong. Anh bỗng trở nên hay hát, các bài giảng của anh mượt mà hơn và tình yêu đến với anh lúc nào cũng không biết nữa. Cho đến một ngày, hai người đều cảm thấy không thể sống thiếu nhau. Anh yêu cô, nhưng muốn né tránh vì thương cô. Cô còn trẻ, lại xinh đẹp chắc chắn sẽ tìm được người chồng tử tế hơn anh. Sẽ có một tương lai xán lạn. Còn anh như con chim đã nhốt trong lồng, đâu có thể cất đôi cánh mà bay tự do được nữa. Đâu có thể được làm cho cô những điều mình muốn. Cô hiểu hết tình cảm và nỗi dằn vặt trong anh, lại càng yêu anh hơn. Và trong một đêm mưa gió, khi thằng bé đã ngủ say, cô đã sung sướng ngã vào vòng tay của anh.
Những ngày tiếp đó là những ngày hạnh phúc nhất trong đời anh. Căn phòng đầy ắp tiếng cười, cả nhà quây quần bên mâm cơm do cô chế biến, đạm bạc nhưng mà vui.
Cuộc sống vui vẻ cứ thế trôi đi được hơn một năm cho đến khi Hảo - vợ anh về nước. Hảo linh cảm thấy chuyện gì đó không bình thường trong gia đình. Khi cô ôm hôn thằng bé và bảo: "Mẹ đây, chào mẹ đi con" thì nó xô chị ra vùng vằng "cô không phải là mẹ cháu, mẹ cháu là mẹ Ngần cơ".
A, thì ra là thế! Cơn tam bành nổi lên. Hảo kéo tất cả chăn màn mang ra sân dùng con dao chặt củi băm ra từng mảnh, rồi băm bổ chạy vào nhà lấy giấy và bật lửa vừa đốt đống chăn màn đã bị băm nát vừa nghiến răng: "Tao đốt hết cái mùi đĩ thoã của con hàng xóm kia đi".
Đống chăn màn cháy rừng rực. Khi tất cả đã trở thành tro, Hảo vào nhà vẫn chưa hả giận, vừa thở hồng hộc, vừa ném những tia mắt rực lửa vào Phong. Anh thở dài bỏ đi chỗ khác. Hảo xông tới kéo anh quay lại, rít qua kẽ răng:
- Anh quan hệ với con Ngần thế nào, nói thật đi để tôi còn liệu. Cô giáo gì cái ngữ ấy, phò thì có.
Phong không nhịn được nữa, anh quát lên:
- Cô ấy không phải là phò. Cô ấy là người đáng kính trọng. Tôi yêu cô ấy.
Hảo sững sờ không tin vào tai mình nữa. Máu dồn cả lên mặt. Cô với tay nhặt cái cốc thuỷ tinh đang đựng nước trên bàn, rồi vung tay lên. "Bốp" một tiếng khô và gọn, cái cốc bay thẳng vào trán Phong. Máu chảy ra như xối từ vết thương trên trán anh. Anh ôm trán ngồi xuống sàn nhà trong tiếng khóc thét của thằng bé, tiếng chì chiết của vợ anh.
Câu chuyện lan ra, mọi người thì thầm bàn tán, nhưng ai cũng quý Ngần nên câu chuyện không đến nỗi nghiêm trọng. Ngần xin nghỉ dạy mấy hôm nằm ở trong nhà. Hàng ngày lắng nghe những điều đang xảy ra ở phòng bên cạnh. Cô xót xa cho Phong và thương thằng bé, nhưng chỉ biết khóc thầm.
Đêm khuya. Nằm một mình vắt tay lên trán, nhớ đến nét mặt của Phong ban chiều, Hảo bỗng hiểu ra một chân lý rằng: trong tất cả các cuộc chiến tranh thông thường, có thêm sự giúp đỡ của bạn bè, chính nghĩa bao giờ cũng thắng phi nghĩa nhưng riêng cuộc chiến tranh giữa vợ và bồ, mặc dù người vợ chính nghĩa, có sự hậu thuẫn, ủng hộ của anh em, bố mẹ và thậm chí cả những người xung quanh nữa nhưng bao giờ cũng thất bại. Thất bại bởi sau cuộc chiến, nếu có giữ được chồng thì cũng chỉ giữ được phần xác, còn phần hồn với cả trái tim và tình yêu, anh ta đã dành hết cho người yêu mới. Đó là chưa nói đến trường hợp căng thẳng quá, anh ta sẽ bỏ đi và không bao giờ trở lại.
Một buổi chiều Hảo gọi Ngần sang nhà, với ánh mắt lạnh lùng nhìn cô từ đầu xuống chân, rồi cất giọng kẻ cả:
- Tôi thấy cô còn trẻ người non dạ nên tôi cho qua, lần này tôi không chấp, nhưng không thể có lần sau. Nếu còn tái diễn tôi sẽ báo lên ban giám hiệu nhà trường, công đoàn và đoàn thanh niên, lúc đó cô có ân hận thì cũng đã muộn.
Ngần ra về lòng nặng trĩu với những suy nghĩ mông lung, không biết phải làm gì. Cô không ăn tối, ôm gối nằm lắng nghe tiếng the thé của Hảo, tiếng chân đi lầm lũi của Phong, tiếng thằng bé khóc mà không chịu ăn bên kia vách nứa. Cô ước ao được ôm thằng bé vào lòng, được vuốt lên những sợi tóc đã bắt đầu điểm bạc của anh, được gục đầu vào vai anh mà khóc cho nhẹ lòng.
Ngày hôm sau, ngày hôm sau nữa, thành lệ, cứ bảy giờ sáng là Ngần đã chờ sẵn ở sau hàng rào cây xương rồng ở sườn dốc, nơi bố con Phong sẽ đi qua đó đến nhà mẫu giáo. Cô dõi theo bước chân đi của thằng bé cho đến khi khuất hẳn mới trở về. Một buổi sáng, dù trời lất phất mưa, nhưng cô vẫn đến chỗ cũ, hai bố con Phong lom khom đi trong chiếc áo mưa đã rách mấy chỗ, vài mảnh nilông phất phơ bay trong gió như những lá cờ nho nhỏ. Thằng bé bỗng trượt chân ngã. Phong không kịp đỡ. Giật mình, cô suýt kêu lên thành tiếng. Bàn tay cô nắm chặt vào một cành cây xương rồng. Những cái gai xương rồng đâm ngập vào lòng bàn tay, nhưng cô không chú ý đến nó. Chỉ chăm chăm nhìn theo thằng bé. Chỉ đến khi bố con thằng bé đã đi xa, cô mới thấy đau và hoảng hốt nhìn những giọt máu đang rỉ ra theo những cái gai nhọn hoắt.
Nửa đêm hôm đó, Ngần sốt cao. Nhiệt kế chỉ mức 40 độ. Cổ họng khô đắng. Cô gọi tên Phong trong cơn mê, suốt đêm vật vã. Kết quả cả tuần ít ăn, không ngủ, đầu óc quá căng thẳng và hoang mang.
Phong biết Ngần ốm, thương lắm, nhưng chẳng biết làm sao. Trong giờ dạy mà cứ như ngồi trên đống lửa. Lắm lúc cầm viên phấn trong tay mà không biết định viết cái gì. Buổi trưa chạy vội về, nhân lúc Hảo đi vắng, anh vét tất cả số tiền có được đủ mua cho Ngần cân đường, hộp sữa và mấy quả chanh. Anh oà lên khóc khi thấy Ngần hốc hác, xanh xao, làn môi đỏ mọng ngày nào bây giờ khô khốc và nứt nẻ. Nước mắt cô cũng giàn giụa khi nghe tiếng bước chân quen thuộc của anh. Anh ấp mặt vào má cô. Những giọt nước mắt của anh và cô hoà lẫn vào nhau, những giọt nước mắt mặn chát của một mối tình đầy thương yêu và cay đắng.
Hai tuần trôi qua, Ngần đã bắt đầu đi lại được, nhưng trong lòng cô nặng trĩu, ngổn ngang trăm mối. Cô biết mình không thể ở đây được nữa. Cô sẽ rất đau lòng khi hàng ngày nghe những bước chân nặng nề, lầm lũi của anh, tiếng chì chiết, đay nghiến của vợ anh, tiếng thằng bé nấc nghẹn ngào trong tiếng quát tháo của mẹ nó. Cô phải đi thật xa, đến một nơi nào đó để có thể yên tĩnh mà nhớ anh, để có thể đặt tấm ảnh của anh trên bàn ngắm mà không phải e ngại một điều gì. Vả lại cô cũng không còn tâm trí nào để chuẩn bị cho bài giảng, mà cô cũng không muốn bị rơi vào loại giáo viên giảng bài hời hợt và nông cạn.
Thương cô, ông bác ruột là giám đốc một nhà máy cơ khí xin cho cô một suất đi xuất khẩu lao động ở Đức.
Ngày cô ra đi, Hảo không muốn cho Phong và bé Nam gặp mặt nên cố tình đưa cả nhà về quê ngoại lấy cớ là bà ngoại bị ốm. Khi về quê, thấy bà ngoại vẫn khoẻ mạnh, Phong buồn bã thở dài. Anh nghe văng vẳng đâu đó có tiếng máy bay cất cánh và tiếng nức nở của Ngần.
Ngần đi rồi, Phong mới thấy cuộc sống thật tẻ nhạt. Mọi thứ đều vô vị. Anh không có hứng thú làm việc gì, kể cả dạy học. Nhiều đêm không ngủ. Anh lo cho Ngần không biết bây giờ ở đâu, thân gái một mình nơi đất khách quê người biết sống ra sao? Tương lai, tiền đồ không biết sẽ như thế nào.
Sau bao đêm thức trắng, Phong quyết định làm đơn xin đi làm thực tập sinh tự túc ở Nga. Hảo đòi ly hôn. Anh chấp nhận. Nhờ mấy đứa bạn thân ứng tiền cho vay và gửi giấy mời về để làm thủ tục xuất cảnh. Theo kế hoạch định sẵn, đến Moscow anh không nhập trường để học, mà đầu quân cho một nhóm chủ hàng chuyên buôn bán quần áo bò. Anh không học, không phải vì không muốn học, mà anh cần một số tiền lớn. Số tiền đó đủ sang Đức tìm Ngần.
Anh cần mẫn làm việc, chăm chỉ như con ong, con kiến. Với vốn tiếng Nga tương đối tốt, những chuyến hàng qua cửa hải quan đươc thông đồng bén giọt. Bạn bè trả công cho anh xứng đáng, chỉ hơn hai năm anh đã có đủ số tiền cần thiết. Anh hăm hở tìm những người quen ở Đức tìm kiếm Ngần. Những ngày sau đó anh như kẻ mộng du, đêm đêm ít ngủ, đi ra đi vào vô định, sáng ngóng, chiều mong. Anh sững sờ khi nghe tin nước Đức thống nhất có chủ trương cho tất cả người Việt Nam về nước. Ngần cũng là một trong những người tình nguyện lĩnh mấy nghìn D Mark rồi về Việt Nam. Khi bạn anh tìm được chỗ làm việc của cô thì cô đã về nước được gần một tháng.
Phong thất vọng, anh vội gọi điện về Việt Nam tìm Ngần, nhưng không ai biết cô đang ở đâu. Đã mấy năm trời tìm kiếm trong vô vọng, bỗng hôm nay anh được gặp Ngần trong hoàn cảnh bất ngờ...
Buổi chiều hôm đó, tại làng Chờ, mọi người quây quần bên mâm cơm do Ngần chuẩn bị. Nhìn nét mặt rạng rỡ của chị ai cũng thấy mủi lòng. Chiều tối Sơn và Thắng chia tay mọi người về nhà khi không khí ngày Tết đã lan vào từng ngõ nhỏ. Phong ở lại cùng Ngần đón Tết trong niềm hạnh phúc tột cùng.
Hai tháng sau khi Phong trở lại nước Nga, Ngần tổ chức bữa cơm chia tay với chị em ở làng Chờ. Tiếng cốc chén chạm nhau lanh canh, tiếng cười nói vui vẻ. Tất cả đều chúc cho chuyến bay sang Moscow của Ngần ngày hôm sau thuận buồm, xuôi gió. Ngần tặng lại căn nhà của mình để dùng làm phòng đọc sách cho các cháu trong làng.
Có tiếng chuông điện thoại từ nước Nga xa xôi, tiếng Phong vang lên hồ hởi:
- Anh mong cho đến ngày mai để đươc đón em, mà cả thằng Nam cũng đi nữa đấy. Cu cậu đang là quần áo. Nó bảo vẫn tưởng tượng ra khuôn mặt của mẹ Ngần.
Ngần nhìn lên bầu trời. Những vì sao lấp lánh. Ánh trăng thượng tuần chênh chếch chiếu rõ lên khuôn mặt đang ngời lên hạnh phúc của cô.
TS Nguyễn Đình Lâm - Tổng Giám đốc TTTM Sông Hồng - Moscow
 
Những nụ cười méo mó
Tin hãng hàng không Nga giảm giá vé máy bay về Việt Nam từ 900 đô xuống
còn 450 đô làm mọi người xôn xao. Đối với người giàu có, buôn bán khá khẩm thì số tiền giảm chẳng nghĩa lý gì, nhưng đối với những người làm ăn khó khăn, không có nhiều vốn liếng để buôn bán, mỗi tháng chỉ để ra được một tí ti thì số tiền giảm quả là đáng kể. Chỉ nhờ vào những dịp giảm giá vé, những người này mới có điều kiện về thăm nhà.

Hoà quyết định về phép. Anh gọi điện cho một trung tâm dịch vụ đặt vé. Anh biết loại vé này nhanh hết lắm, phần vì người mua đông, phần nữa vì các dịch vụ ôm hết vé để bán ra với giá cao hơn giá mà hãng hàng không quy định để kiếm lời. Bởi thế nếu ai không nhanh chân sẽ không còn chỗ. Sau mấy ngày hồi hộp chờ đợi, anh đã có vé ở trong tay. Anh vui lắm. Nhẩm đi tính lại, đã năm năm rồi anh chưa về phép lần nào. không phải anh không muốn về mà anh không thể về. Cửa hàng bán lẻ của anh chắt chiu hàng tháng cũng chỉ để ra được khoảng vài trăm đô sau khi chi phí cho hàng trăm thứ như tiền ăn, tiền ở, tiền đi lại, tiền điện thoại vv... ngoài ra mỗi tháng anh còn đều đặn gửi cho vợ 100 đô nuôi con. Rồi còn hàng hoá nữa, thỉnh thoảng cũng phải đầu tư cho phong phú mới câu được khách. Bởi thế anh đâu dám bỏ ra 900 đô tiền vé để về, mà về đâu phải chỉ cần tiền vé, còn phải mua quà cáp, biếu xén, đi lại nữa chứ. Một lần về như thế có tiết kiệm lắm cũng phải hết hai ngàn đô. Số tiền này không phải lúc nào cũng có, vì thế mà 5 năm rồi anh không về được. Lần này trong túi anh có 1500 đô, trừ tiền vé cũng còn khoảng 1000, chi tiêu trong một tháng phép thế cũng xông xênh rồi.
Cái ngày mong đợi đã đến, Hoà ngồi trên xe ra sân bay mà lòng cứ nhẹ lâng lâng. Anh thấy cuộc đời sao mà vui thế. Hơi run một chút khi qua cửa biên phòng. Ông nhân viên cứ săm soi, lật đi lật lại cái vi da nhưng rồi cũng qua trót lọt. Lên máy bay, phải chen lấn mãi anh mới tìm được chỗ của mình. Trời lạnh mà mồ hôi ướt đầm cả áo. Thỉnh thoảng lại có tiếng kêu ré lên khi ai đó bị dẫm lên chân hoặc bị túi xách va phải. Hoà đang lo lắng vì một cái túi trên giá sắp rơi xuống đầu thì một khuôn mặt quen thuộc vừa thở hổn hển vừa ngồi xuống bên cạnh. Tưởng ai hoá ra thằng Sinh người cùng quê, hai thằng tay bắt mặt mừng, đã vui lại càng vui thêm.
Máy bay cất cánh. Không khí trong khoang như loãng ra, ai cũng cảm thấy dễ chịu. Hai đứa bắt đầu hỏi thăm công việc của nhau. Mặc dầu cùng ở Mátxcơva và chỉ cách nhau có mươi cây số nhưng công việc cứ cuốn đi nên chẳng bao giờ thăm được nhau. Nghe Hoà phàn nàn về buôn bán ngày một khó khăn, Sinh nói giọng rầu rầu:
- Mày thế là còn may. Tao bây giờ bi đát lắm. Mấy năm trước tao làm ở Trung tâm thương mại Sông Thao cũng có được một số tiền, sau nghe mọi người bảo ở chợ Vòm làm ăn khá lắm, vất vả một tí nhưng giàu rất nhanh. Có người chỉ làm ở Vòm có hai năm đã mua nhà hàng tỷ đồng ở Hà Nội. Thế là tao bỏ hết vốn, thuê công bán ở chợ Vòm. Không ngờ tiền thuế hàng tháng lại cao mà tao vì ít vốn nên ít hàng, vì thế khách chẳng có mấy, thế là hàng tháng phải moi tiền túi ra nộp. Vừa rồi tao phải trả công lại cho chủ, vét tất cả còn vài ngàn đô, tao về một chuyến cho hết vận đen, còn làm ăn lúc sang sẽ tính.
Biết thằng bạn đang buồn, Hoà động viên mấy câu rồi ngủ thiếp đi.
Máy bay xuống đúng giờ. Hoà thấy thấp thoáng bóng vợ con đang vẫy tay ngoài phòng đợi. Anh ngạc nhiên khi thấy vợ dám thuê hẳn một chuyến xe từ quê ra Hà Nội trên quãng đường dài gần 300 cây số. Sinh muốn được đi cùng cho đỡ phải ra ga đi tàu hoặc thuê xe khách. Tất nhiên vợ chồng Hoà vui vẻ đồng ý.
Cả thành phố bé nhỏ xôn xao bởi tin có mấy đại gia đi làm ăn ở Nga về phép. Nhà Hoà có khách từ sáng, mấy đứa bạn cũ thay nhau đến thăm. Bọn này có vẻ sành điệu lắm. Xe máy Spaci, điện thoại di động Nokia giắt lưng, chắc cũng muốn khoe rằng, mặc dầu ở nhà, nhưng cũng chẳng đến nỗi nào. Hoà với tay dấu cái điện thoại Siemens A35 xuống dưới gối sợ chúng nó nhìn thấy lại chê, rồi pha ấm nước chè, vui vẻ mời mọi người. Đang kể những chuyện ngày xưa bỗng một thằng hỏi cắt ngang:
- Đợt này ông về có định đầu tư cái gì ở tỉnh mình không? Các ông trên tỉnh đang kêu gọi đầu tư ghê lắm, bảo là sẽ trải thảm đỏ mời các nhà đầu tư nước ngoài đấy.
Hoà cười lắc đầu:
- Bọn mình làm gì có tiền. Mỗi tháng chỉ để ra được vài vé, nuôi được bản thân và vợ con là may rồi.
Cả bọn liếc mắt nhìn nhau, không khí bỗng trầm hẳn xuống. Một thằng bĩu môi:
- Vài vé thì đi Nga xa xôi mà làm gì, bọn này ở nhà mỗi tháng cũng kiếm được vài ba triệu.
Câu chuyện trở nên nhạt nhẽo, hỏi thêm mấy câu rồi cả bọn nổ máy phóng đi.
Hoà bỗng thấy buồn, vợ anh chạy ra an ủi:
- Anh buồn làm gì, người ta cứ nghĩ đi tây là phải giàu có lắm. Mà ở quê mình bây giờ cũng buồn thật, nếu anh có tiền thì mọi người sẽ nể trọng, nếu không có tiền thì sẽ gặp thái độ như mấy anh bạn của anh vừa rồi. Em nghe mọi người trầm trồ khen anh Sinh vừa mới ở Nga về cùng với anh hôm trước giàu có lắm, đi đâu cũng bằng tăcxi, nghe nói còn mua được một cái nhà rất to ở mặt phố Hà Nội.
Hoà ngạc nhiên, thằng Sinh đang phá sản kia mà, hay là còn thằng Sinh nào khác. Anh đi ra đường, gọi một chiếc xe ôm rồi phóng đến nhà Sinh.
Nhà Sinh nằm ở một phố nhỏ, phải đi vòng vèo một lúc mới tới. Chưa đến sân, Hoà đã nghe tiếng cười nói oang oang. Trước sân nhà một loạt những chiếc xe đắt tiền của khách, có cả A còng, Dylan... Trên bàn có hai thùng bia haliđa đã vơi một nửa. Mấy đĩa thịt bò khô cũng chẳng còn bao nhiêu. Thấy Hoà đi vào, Sinh chạy ra đón rồi cao giọng:
- Xin giới thiệu để mấy anh em làm quen, anh Hoà, bạn mình cũng vừa ở Nga về. Vừa rồi cũng định mua nhà ở Hà Nội, nhưng mình khuyên nên về tìm một dự án gì đó đầu tư cho quê hương.
Sinh nháy mắt mấy cái ra hiệu. Hoà ngầm hiểu ý bạn nên vui vẻ chào mọi người. Câu chuyện trở nên rôm rả hơn. Cả bọn lập thời gian biểu trong đó ghi rõ ngày nào đi ăn thịt dê ở phố Phan Đình Phùng, ngày nào ăn thịt chó ở Hồng Bàng... cả bọn tranh nhau chiêu đãi khách xa nhà. Còn có mấy người bảo sẽ liên hệ với sở đầu tư của tỉnh để Sinh và Hoà đến làm việc.
Mãi xế chiều, đám khách mới đi khỏi. Hoà hỏi Sinh:
- Thế này là thế nào? Tại sao lại phải nói dối thế?
Sinh cười ngượng nghịu:
- Ông cứ tưởng tượng xem, nếu nói là mình bị phá sản thì mọi người sẽ nhìn mình như thế nào? Có ai chơi với mình nữa không? Tình thế buộc mình phải nói dối, vả lại nói dối cũng chẳng mất gì, không có ai đánh thuế việc nói dối cả mà tất cả đều vui vẻ.
Hoà nhớ đến thái độ của mấy đứa bạn. Anh gật gật đầu, có lẽ đây cũng là giải pháp tốt nhất trong hoàn cảnh hiện nay.
Sáng thứ 7 phòng tiếp khách của Sở kế hoạch và đầu tư uỷ ban tỉnh mới 9 giờ đã rất nhộn nhịp. Người ta trải những tấm vải trắng muốt lên bàn, cắm vào bình những bông hoa hồng tươi rói còn ướt đẫm sương đêm. Những chai bia, những bao thuốc 3 số được bày ra rất đẹp mắt. Không khí vui vẻ và nhộn nhịp. Chả là hôm nay giám đốc sở và ban lãnh đạo tỉnh đón 2 đại gia làm ăn ở Nga về phép, có ý định đầu tư xây dựng một số dự án cho quê hương.
Đồng hồ chỉ 10 giờ. Chiếc xe được phái đi đón khách của sở đã nháy đèn rẽ vào cổng. Hoà và Sinh thong thả xuống xe, phong thái đàng hoàng trong bộ comlê là thẳng nếp. Ông giám đốc sở tươi cười chào từ đằng xa, bắt tay rất chặt, lắc lắc mãi rồi mới buông ra. Ông Tân, phó chủ tịch tỉnh cũng vui vẻ ra đón. Buổi tiếp diễn ra trong không khí đầm ấm và thân mật. Hoà và Sinh chăm chú lắng nghe ông giám đốc sở trình bày các dự án của tỉnh, ghi chép đầy đủ những địa điểm, số liệu vào sổ tay. Cuối buổi, Sinh đứng lên nói rành rọt:
- Cảm ơn các anh đã tổ chức buổi gặp mặt bổ ích và lý thú. Chúng tôi sẽ suy nghĩ thêm nhưng có lẽ chúng tôi sẽ chú ý đến dự án xây dựng siêu thị 7 tầng tại ngã tư thành phố. Chúng tôi sẽ cân đối về tài chính rồi sẽ thông báo cụ thể trong cuộc gặp sau.
Tiễn khách ra cổng, ông giám đốc sở còn thì thầm vào tai cậu lái xe:
- Nhớ đưa khách đi ăn uống, tắm hơi cho thoải mái nhé.
Tin Hoà và Sinh sắp xây siêu thị ở ngã tư thành phố loan đi rất nhanh. Đâu đâu cũng trầm trồ bàn tán, nhiều người tìm đến Hoà và Sinh để làm quen và nhìn hai người bằng những cặp mắt ngưỡng mộ.
Đêm về, khi trong nhà chỉ còn hai vợ chồng, Hoà mới nằm vật ra giường chán nản. Anh thấy ngượng với vợ, xấu hổ với chính bản thân mình. Anh mong sao cho chóng hết thời gian để bay sang Nga cho đỡ căng thẳng. Con người anh vốn thật thà, không quen nói dối. Chỉ có điều bây giờ “ đâm lao thì phải theo lao”. Biết làm thế nào khác được.
Hoà quyết định về quê mấy ngày thay đổi không khí. Gió mát trăng thanh, không khí trong lành. Bát chè xanh cùng rổ khoai lang bốc hơi nghi ngút đầy hương vị đồng quê làm lòng anh dịu lại. Anh tìm lại được một số cảm giác của thời thơ ấu, lang thang trên đồng xem lũ trẻ chăn trâu hò nhau bắt dế mà thấy vui vui.
Quay về thành phố, Hoà rẽ vào nhà Sinh, thấy mọi người trong nhà đang ngồi im lặng. Không khí thật nặng nề, có cảm giác như có thể cầm dao xắn ra từng miếng được. Thấy Hoà vào, Sinh cố gượng cười. Miệng nhếch ra, nửa cười nửa mếu, không biết nên gọi là gì? Cười hay là khóc? Một bà trung tuổi, mặt đỏ gay, thở hổn hển đứng bật dậy, giọng gay gắt:
-Anh xem, thằng Sinh có tệ không. Nó sẵn sàng bỏ ra hàng mấy chục tỷ đồng để xây siêu thị, thế mà chúng tôi - chị em ruột của nó - chỉ xin mỗi người có dăm triệu để sửa cái nhà thế mà nó không cho. Đúng là giàu có thì quên cả anh em ruột thịt.
Sinh gãi đầu, ấp úng kể cho các chị nghe chuyện làm ăn thua lỗ, nợ nần chồng chất vì vậy không có tiền cho các chị nhưng không ai chịu tin cả. Mọi người cứ nghĩ là Sinh kiếm cớ để khỏi phải cho tiền. Các bà đứng cả dậy, mắng mỏ, xía xói thêm một lúc rồi đùng đùng kéo nhau đi. Ra cửa, bà chị cả còn chỉ ngón tay vào mặt Sinh dứ dứ:
-Từ nay trở đi chúng tao với mày chẳng còn chị em gì nữa.
Rồi quay người bỏ đi. Sinh ôm đầu ngồi bất động trên ghế. Hoà chán nản quay về nhà. Anh không gọi xe ôm mà lững thững đi bộ cho vơi nỗi bức xúc trong lòng. Anh bỗng nhớ nước Nga, nhớ quay nhớ quắt. Bên ấy đang giữa mùa đông, tuyết chắc đang bay đầy đường, phủ dày lên mặt đất như một tấm thảm màu trắng tinh khiết. Lũ con gái má đỏ hây hây, ngồi túm tụm rồi bốc tuyết vắt thành những con thú có hình thù khác nhau. Bọn con trai nghịch ngợm ném tuyết vào người nhau, hò hét ầm ĩ, nhìn mặt đứa nào cũng như lọ lem.
Vợ anh đang bồn chồn chờ ở cổng, thấy anh từ xa vội chạy đến, kéo anh vào một góc, lấm lét nhìn xung quanh rồi thầm thì:
-Tốt nhất anh đừng về nhà. Thằng Lợi từ Thanh Hoá về, thằng Vân từ Hà Tĩnh ra. Một đứa chờ anh về để xin tiền cưới vợ, một đứa xin tiền mua xe máy. Chúng nó bảo chỉ xin một cái vẩy nhỏ trong cái siêu thị của anh.
Anh giật mình, lại giống thằng Sinh rồi. Anh bỗng nhớ những bộ mặt hầm hầm, những ngón tay chỉ vào mặt như đấu tố địa chủ ngày trước, những câu đoạn tuyệt nghĩa tình. Anh nhăn nhó bảo vợ:
- Có lẽ anh phải về quê lánh thêm mấy bữa, lúc nào chúng nó đi rồi thì gọi điện báo cho anh.
Chị vợ đứng một lúc rồi gật đầu. Anh quay lại đường cũ. Đi được mấy bước, anh quay lại nhìn chị. Chị nhìn anh, vừa lau nước mắt vừa gượng cười, nụ cười méo mó đến tội nghiệp.

Sông Hồng 1-2005
Nguyễn Đình Lâm
 
Cám ơn bác cuvina. Em rất thích đọc những truyện ngắn kiểu như thế này. Nó miêu tả được hết thực trạng và cuộc sống của những người mang danh Việt Kiều. Chẳng thế mà trước đây, khi chưa đi sang nước ngoài, ở nhà em vẫn nghĩ những người đi "tây" phải là những người giầu có lắm. Ai cũng phải rất "ngầu", và rồi luôn là khách sộp của mọi gia đình. Hồi đó trẻ con, họ mang về cái bánh, cái kẹo lạ lạ mắt, hoa hòe hoa sói nên luôn nghĩ những người ở "tây" sống như thiên đường. Khi sang đây mới biết cuộc sống của họ thế nào. Để có thể có một dịp về phép cho có vẻ xôm tụ một chút họ phải chắt bóp từng đồng một, phải chịu đựng cuộc sống trong một không gian chật hẹp chỉ là nhữgn mảnh ván ngăn lại thành 1 căn buồng. Rồi hàng ngày phải bán mặt cho cái rét -20 độ ngoài trời tuyết đến nỗi da nứt nẻ như trời hạn hán. Chứng kiến cảnh sống của những Việt kiều taị Nga, em lại tự hỏi, ko biết những "Việt kiều" tại Úc, Anh, Mỹ như kiểu trên có khá khẩm gì hơn ko. Hay là về nhà họ vẫn complet, di động dắt túi nhưng bên kia vòng trái đất chắc họ cũng đang phải lăn lộn ...
Về tác phẩm trên thì em cũng chẳng biết đánh giá thế nào, chỉ thấy nó chân thật và thực tế. Chắc với những người có cảm nhận văn học như em thì thế là đủ rồi nhỉ.
Bác cuvina còn truyện nào kiểu dạng này nữa post lên cho anh em coi với. Em cám ơn bác
 
Còn ! Còn nhiều VIRUS ạ ! nhưng mình sẽ sàng lọc những chủ đề liên quan trực tiếp tới cuộc sống, những mảnh đời của những người con Việt nam trên quê hương tuyết trắng .
hy vọng đồng bào trong nước cũng như khắp bốn phương chia sẻ và thông cảm với chúng tôi !
 
Việt kiều mình ở đâu cũng vậy thôi .Cũng cực khổ , đổ bao nhiêu mồ hôi , và cả máu nữa , để kíêm đc miếng ăn trên đất khách. Em có khá nhiều bà con họ hàng đang ở Mỹ và Canada . Có 1 điều là họ mỗi lần về nước đều tâm sự thực lòng với bà con , hàng xóm về những nỗi khốn khổ , cay cực , những nghề nghiệp thật của họ : lao động bình thường , làm nail , rửa xe , rửa chén , ... Họ may mắn hơn những nhân vật trong truyện ngắn , họ đc sống trong 1 môi trường có những con người ko coi trọng tiền bạc hơn tình nghĩa.
 
Bác gửi tiếp truyện của NĐLâm đi chứ. Tôi cũng thích đọc vì tính chân thực và giản dị của các truyện ngắn này.
 
Ảnh bìa Của tập truyện ngắn [size=18:aee3a7338c]Tình yêu hàng chợ[/size] của Nguyễn Đình Lâm
Bia2.jpg
 
Con Mèo

Đêm yên lặng, tĩnh mịch. Những tiếng ồn ào cuối cùng cũng bị màn đêm cuốn đi. Bảo ngồi lắng nghe tiếng tí tách đêu đều của những giọt cà phê đang nhỏ xuống. Thêm một chút đường , Anh châm rãi khuấy đêu đều. đêm nay Anh trực ở công ty. Ly cà phê này sẽ giúp Anh chống lại thói quen ngủ sớm. Hương vị thơm thơm và những giọt đắng hòa lẫn vào nhau đem đến cho Anh một cảm giác thật dễ chịu. Anh lơ đãng với tay lấy tờ báo trên bàn đọc lướt qua bài “ Vũ trường lúc trái giờ”. Đang buồn cho các ông chồng giàu có gặp phải các bà vợ đang tuổi hồi xuân thì chuông điện thoại bỗng reo lên inh ỏi. Ai có việc gì mà gọi vào đêm hôm khuya khoắt thế này? Anh nhấc vội ống nghe, đầu giây bên kia là tiếng vợ anh nghẹn trong tiếng nấc:
-Anh à! Có chuyện không may rồi. Anh về nhà ngay!
Anh chưa kịp hỏi thêm thì bên kia đã gác máy. Anh gọi cậu bảo vệ đến dặn dò mọi việc rồi chạy xuống lấy xe về nhà. Mở chìa khóa điện, động cơ kêu khẹc khẹc mà không chịu nổ máy. Loay hoay mãi mà vẫn cứ ỳ ra. Anh gọi thêm hai người bảo vệ, Cài số rồi cả bọn gò lưng đẩy, Một luồng khói đen phụt ra, chiếc xe rùng mình gầm lên ầm ầm. Anh nhảy vội lên xe, rú ga phóng ra đường trong tâm trạng hoang mang, hoảng hốt, không hiểu chuyện gì đã xẩy ra.
Anh nhấn chuông của, Đứa con gái 9 tuổi ào ra, Anh ôm chặt lấy nó, sờ từ đầu xuống chân thấy tất cả vẫn nguyên vẹn. Anh chạy vào nhà, vợ anh đang khóc nức nở. Thấy anh, chị ngẩng đầu lên, nói giọng đứt quãng:
-Con mèo…con mèo bị cửa sổ kẹp vào chân…gãy rồi.
Ối trời ơi, tưởng chuyện cháy nhà, chết người, hóa ra chuyện con mèo gãy chân.
Anh ngồi phịch xuớng ghế, ôm lấy đầu. Nỗi bực bội trào lên, anh nói như gào:
- con mèo gãy chân chứ có phải ai chết đâu mà khóc. Bây giờ cô muốn gì ?
vợ anh gạt nước mắt:
- Anh đưa ngay nó vào phòng cấp cứu giành cho động vật, phải chụp phim và bó bột . ở đó người ta làm việc 24/24 giờ
Anh nặng nề lái xe đi trong đêm. Bóng đêm tối sầm và u ám như tâm hồn anh . Liếc nhìn vợ ôm con mèo bên cạnh. Một tình cảm khó phân biệt chen vào trong anh . Vừa thương, vừa giận. Anh bỗng nhớ về 20 năm trước, đang học lớp chín, anh hăng hái tình nguyện vào bộ đội mặc dầu chưa đủ tuổi . Từ giã miền đông quê nghèo khó, anh vượt Trường sơn vào chiến trường Tây nguyên. Trải qua bao mùa mưa lũ với sốt rét rừng, bao mùa khô chỉ ăn củ sắn củ, rễ cây, anh đã sống và chiến đấu như một người lính từng trải . Ngày hòa bình, anh quay về học tiếp . Trường xưa cảnh cũ nhưng bạn học của anh bây giờ là những học sinh chỉ bằng tuổi em mình. Nhìn anh ngồi cao lồng ngồng trong lớp, một vài người trong xã khuyên anh “ Cậu chẳng học thêm làm gì, làm cán bộ xã và lấy vợ là vừa ’’ . Anh mỉm cười không trả lời nhưng trong lòng đã định sẵn cho mình con đường là phải học giỏi để đi học nước ngoài. Sự cố gắng của anh không uổng, cầm tờ giấy báo đi học nước ngoài mà cứ nghĩ mình nằm mơ. Lần thứ hai xa nhà với những ngày đầu tiên trên thủ đô nước Nga thơ mộng. Anh rụt rè trong bộ comlê được phát rộng thùng thình . thỉnh thoảng liếc trộm các cô gái Nga học cùng lớp đang độ xuân xanh mơn mởn/ Cô nào cũng đẹp .cô nào cũng xinh. Nhìn các cô trong bộ váy ngắn phô những bắp chân trắng hồng, anh chợt mim cười “Các cô này mà đi cấy ở quê mình thì chắc lũ đỉa phải thích lắm”. Anh đặc biệt có cảm tình với một cô gái có vóc người nhỏ nhắn, miệng cười duyên dáng và có nước da trắng hồng. Cô ta lại có cái tên rất ấn tượng- Kachia. Trong cưộc chiến tranh giữ nước vĩ đại, Kachia đã được các anh bộ đội trìu mến đặt tên cho một loại hỏa tiễn nổi tiếng-kachíusa. Và cũng chính là tên một bài hát mà anh thường hát khi đang còn ở chiến trường.
Anh trở thành bạn thân của cô. Cô giúp anh học ngoại ngữ, anh kể cho cô nghe về đất nước và quê hương mình.Một chiều đông lạnh, anh đưa cô về sau buổi học, cô trượt chân và ngã vào vòng tay anh. Tim anh đạp loạn nhịp vì sung sướng, lần đầu tiên trong đời, anh được ôm một người con gái.Thời gian dần trôi, hai người yêu nhau lúc nào không biết. Mãi đến ngày bảo vệ luận án tốt nghiệp và chuẩn bị về nước, hai người mới thực sự hoảng hốt khi bạn bè nhắc chuyện chia tay.Cô khóc đến kiệt sức, anh vò đàu bứt tai,Biết không thể xa nhau, anh viết thư xin phép bố mẹ cưới vợ và ở lại một thời gian.
Đám cưới của anh thật đầm ấm và vui vẻ. Bạn bè của anh và cô đều đến dự và góp vui cho đám cưới đầu tiên trong trường giữa hai người ở hai quốc gia khác nhau. Những ngày đầu chung sống với hạnh phúc tột cùng, anh cũng không ngờ những ngày sau lại phức tạp và vất vả đến thế. Vợ sống theo cách Châu Âu, chồng sống theo thói quen Châu Á. Vợ thích ăn đồ Tây, chồng thích ăn cơm ta. Mâm cơm lúc nào cũng bộn bề. Bánh mỳ xúc xích xen lẫn đĩa cơm, bát thịt kho và chút canh rau gì đấy. Vợ thích ngủ sớm, chồng có thói quen ngủ muộn… anh nhớ có lần vợ đi vắng, anh chạy vào một ốp có đông người Việt Nam ở, mua một túi đậu phụ và mắm tôm, rán đầy một đĩa vàng rộm, lấy bát mắm tôm đánh cho sủi bọt, anh định ăn một bữa cho thỏa thích sau nhiều năm không được ăn cái món mà mình ưa thích khi còn ở quê nhà. Vừa bưng bát lên thì vợ anh về nhà không theo giờ hẹn. Vừa vào nhà, cô ta vội chạy ra ngoài khi ngửi thấy mùi mắm tôm, anh phải vội vàng mang đi cho vào thùng rác. Cô thông cảm với anh nên cũng không nói gì, tuy sở thích khác nhau nhưng vì thương nhau nên mỗi bên nhường nhau một ý, cuộc sống cũng ổn định dần dần, nhất là từ khi cô con gái mang cái tên rất hữu nghị: Việt Nga ra đời.
Dòng hồi ức của anh bị đứt quãng bởi tiếng thầm thì của Kachia âu yếm con mèo “Tội quá, ngoan quá, thương quá đi thôi, cố chịu đau một chút rồi sẽ khỏi ngay mà”. Anh nhìn nó mắt như có lửa. Cơn giận tràn hông. Anh muốn đập một phát chết luôn cho hả giận.
Xe dừng bánh trước cổng trạm cấp cứu tai nạn dành cho động vật. Kachia xô cửa chạy ra, nhấn liên tiếp vào chuông cửa. Một khuôn mặt ngái ngủ thò ra:
- Chuyện gì mà ầm ỹ lên thế?
- Làm ơn đi, làm ơn đi, giúp chúng tôi với.
Cô lao vào phòng cấp cứu. Ông bác sỹ nhìn con mèo, lắc đầu thở dài “Cứ như bị cháy nhà”. Bó bột cho cái chân gãy, thêm một vài lọai thuốc linh tinh, ông bác sỹ hất hàm:
- Ba ngàn rúp.
Bảo giật bắn mình. Ba ngàn rúp vị chi là một trăm đôla, tính ra tiền Việt là một triệu năm trăm ngàn. Số tiền này ở quê anh có thể mua được gần một tấn thóc, nuôi được cả nhà anh trong mấy tháng. Bỏ gần tấn thóc chỉ để chữa chân cho mèo, chuyện thật cứ như đùa. Mà cái lọai mèo này ở quê anh chỉ để cho vào rọ, nhấn xuống nước cho chết. Vặt sạch lông, thái ra những miếng không to và cũng không nhỏ, ướp gia vị và một ít mắm tôm rồi nướng lên than củi. Chỉ mấy phút là mùi thơm đã điếc cả mũi. Anh đã thấy các bậc đàn anh chỉ có một con mèo nướng mà đưa cay hết cả một chai quốc lủi gần hai lít. Anh bỏ ra ngòai ngồi xuống cho bớt cơn giận.
Xong việc, cả nhà bồng bế, dắt díu nhau về nhà, đồng hồ đã chỉ ba giờ sáng. Ai nấy đều bơ phờ vì mệt mỏi. Không khí thật nặng nề. Những ngày sau đó, Kachia ít nói hẳn đi, thỉnh thỏang lại nghỉ việc để chăm sóc mèo. Nhà Bảo như có tang. Ai thích ăn gì thì tự nấu, tự dọn bát đĩa. Nhà cửa lộ xộn như nhà trọ. Bảo căm con mèo lắm, chỉ chờ có dịp cho nó một trận đòn.
Một bữa, Bảo về nhà lấy một số giấy tờ. Con mèo đang nằm trên đi-văng thiu thiu ngủ. Nhìn trước nhìn sau, cả nhà đi vắng “Oan gia gặp ngõ hẻm, phen này thì mày chết với ông” anh thầm nghĩ rồi nhặt một cây gậy, thẳng tay nhằm con mèo giáng xuống. Chẳng hiểu vì vội vàng hay vì lý do gì đó mà cây gậy đánh trượt sang một bên làm đám bụi ở đi-văng bay mù mịt. Con mèo mở mắt nhìn anh, tưởng anh đang đùa với nó nên nhảy xuống đất, xọac hai chân trước, vươn vai, lưng còng xuống, mông cong tớn lên trời. Nhưng rồi lại hốt hỏang nhảy dựng lên bỏ chạy khi đòn thứ hai giáng xuống. Nỏ nhảy lên tủ quần áo quay đầu nhìn lại. Một tiếng “chát” khô khốc, miếng gỗ trên nóc tủ vỡ tung ra. Nó nhảy lên cái tivi. Anh không dám đánh. Đúng là “Ném chuột sợ vỡ đồ quý, ném mèo sợ vỡ ti-vi”. Anh xua nó xuống để đánh tiếp. Bên dồn đuổi, bên chạy trốn, cứ như đèn cù. Anh thở hồng hộc. Nó cũng chẳng kém. Mấy giọt nước đái mang mùi vị không được thơm lắm văng ra nền nhà. Cùng đường, nó trốn vào gầm tủ lạnh, không biết rằng một nửa người nhô ra ngòai. Bảo hít một hơi thở sâu, đang giang hai tay chuẩn bị ra đòn quyết định thì có tiếng chuông cửa. Tiếng hai mẹ con Kachia léo nhéo bên ngòai. Anh giấu vội cái gậy xuống gầm giường. Con mèo thóat nạn. Bảo xốc lại quần áo rồi ra mở cửa, trong lòng hậm hực và tiếc rẻ vô cùng.
Mùa hè đến. Thời tiết ấm áp dễ chịu. Cây cỏ sống gấp như tranh thủ thời gian. Hôm nay mọc lá, mấy hôm sau đã trổ hoa. Cứ như là chuyện cổ tích. Bé Việt Nga đã nghỉ hè, suốt ngày quanh quẩn cùng con mèo chơi ở trong nhà, ngòai ngõ.
Tin báo từ quê lên, bà ngọai ốm nặng. Kachia thu xếp vài thứ cần thiết rồi lên tàu về quê. Ngày chủ nhật, Bảo cũng chuẩn bị vài thứ lặt vặt rồi đưa bé Việt Nga đi ngọai ô chơi cho bé đỡ nhớ mẹ.
Xe chạy từ khi trời còn mờ đất. Đến rừng ngọai ô đồng hồ đã chỉ 11 giờ.
Bé và con mèo chạy trước, Bảo thong thả xách mấy thứ đồ đạc lỉnh kỉnh bước theo sau. Rừng cây xanh biếc. Thấp thóang sau tán lá là hồ nước xanh. Nước hồ trong vắt hất ngược những tia mặt trời thành những tia sang lấp lánh với những màu sắc khác nhau tuyệt đẹp. Bé chạy đi chạy lại, thảm cỏ xanh êm êm dưới bước chân trần. Vẻ mặt rạng rỡ, nó giang tay đón gió, muốn ôm lấy cả ánh mặt trời. Nó phát hiện ra trong lùm cây rậm rạp ở đằng xa có một khóm hoa tim tím vội chạy ngay đến hái. Con mèo bám gót chạy theo. Vươn tay hái được chùm hoa, nó nghe thấy tiếng sột sọat ở đám cỏ dưới chân. Nhấp nhô trong đám cỏ là lưng một con rắn nửa vàng nửa đen đáng uốn lượn. Nó hét lên hỏang sợ, vừa nhìn con rắn vừa đi giật lùi, nó ngã ngồi xuống đất khi vấp phải một mô đất đằng sau. Con rắn vẫn từ từ bò tới. Nó bủn rủn tay chân, chỉ gọi được “Bố ơi!” rồi nhắm mắt lại. Bảo nghe tiếng con gái, biết là có chuyện, vứt hết mọi thứ, chạy như bay về phía tiếng kêu. Đến nơi, một cảnh tượng làm anh sững sờ: bên cạnh con gái đang run bần bật là con mèo đang vật lộn dữ dội với con rắn. Hai chân mèo quặp lấy cổ rắn, miệng gầm gừ dữ tợn. Rắn thở phì phò, quầy đuôi quằn quại cố thóat khỏi móng vuốt của mèo. Đám cỏ nằm rạp xuống, tả tơi. Mấy bông hoa tím nằm lăn lóc bên cạnh. Anh bế con bé ra xa rồi bẻ một cảnh cây xông tới giúp mèo. Mèo thấy anh cầm roi xông tới, nhớ trận đòn ngày trước, vội bỏ con rắn, cúp đuôi chạy thục mạng. Anh đánh chết con rắn, ôm con bé vào lòng mà nó vẫn chưa hòan hồn.
Chẳng còn tâm trạng để chơi, hai bố con lên xe trở về. Xe lắc nhè nhẹ như đưa võng. Chẳng mấy chốc con bé đã ngủ ngon lành. Trong vòng tay bé, con mèo cũng nằm lim dim, thỉng thỏang hé liếc mắt nhìn trộm anh. Bảo âu yếm nhìn nó, một cảm xúc mới lạ trào lên trong anh. Nói đáng tội, con mèo cũng xinh đấy chứ. Lông mịn màng một màu trắng muốt, khuôn mặt bầu bĩnh. Mắt xanh biếc như một mảnh trời thu, nhìn cũng dễ thương lắm. Với lại sự trung thành và lòng dũng cảm của nó không phải lòai vật nào cũng có được.
Bảo đánh thức con dậy. Việt Nga dụi mắt nhìn quanh rồi hỏi:
- Bố ơi! Đã về đến nhà mình đâu?
- Bố biết nhưng mình xuống đây mua cho mèo mấy hộp thức ăn, ở đây có rất nhiều lọai thức ăn cho mèo.
Bảo trả lời rồi chỉ cho con bé thấy một cửa hàng to vật vưỡng với biển hiệu “Thức ăn dành cho động vật”. Không biết con mèo đã ngồi dậy từ lúc nào cũng đang khịt mũi và rung rung mấy sợi râu trắng.

Sông hồng 12-2004.
 
Hai mươi bốn giờ đồng hồ.

Thu dọn xong nhà cửa và những việc không tên khác, Hương nhẹ nhàng ngồi xuống giường. Đồng hồ treo tường đã chỉ 12 giờ đêm, băt đầu những phút đầu tiên của một ngày mới. Bên cạnh cô, Tùng - người yêu của cô dang tay ra đón. Cô khẽ khàng lùa ngón tay vào tóc anh, vuốt ve những sợi tóc dài và mềm như tóc con gái, niềm thương yêu trào dâng trong lòng cô.
Hương và Tùng quen nhau trong một lần đón Tết tại nhà một người bạn. Cô thích thú nhìn những ngón tay của Tùng mềm mại lướt trên phím đàn ghi ta. Những hợp âm, những điệu nhạc quen thuộc ùa ra tràn ngập căn phòng. Cô háo hức đón những âm điệu dồn dập của “Vũ khúc Tây Ban Nha”, thả hồn mình trong nốt nhạc thánh thót của “bản nhạc Pôlône” và “Bài ca hy vọng”. Tiếng đàn của anh như những giọt nước mắt làm nẩy mầm những tình cảm mới lạ mà cô chưa hề gặp trong đời.
Kết thúc phần âm nhạc, Hương lại thầm mến phục Tùng khi anh hùng hồn định nghĩa thế nào là người đàn ông chân chính trong phần tranh luận về hạnh phúc gia đình:
- Những người đàn ông khi làm việc tại nhiệm sở, luôn làm tốt công việc của mình, có ý thức học hỏi, cố gắng vươn lên để đạt những thành tích mới. Và cũng chính những người đó, khi ở nhà hết lòng lo lắng cho vợ con, họ là mái nhà, là cây đại thụ chở che, họ sẵn sàng hy sinh tất cả - dù đến giọt máu cuối cùng cho những người thân yêu của mình. Đó là những người đàn ông chân chính.
Hương nồng nhiệt hưởng ứng trong tiếng vỗ tay rào rào của mọi người. Cô nhận thấy Tùng chính là người đàn ông lý tưởng mà cô chờ đợi.
Mấy tháng sau cái đêm đáng nhớ ấy, Hương và Tùng yêu nhau. Hai người thuê một căn hộ ở ngòai phố, sống với nhau như vợ chồng. Cô yêu anh hết mực, chăm lo cho anh như một người chồng thực thụ. Từ một cô gái thích làm việc và quyết đóan, cô trở nên lệ thuộc vào anh. Cô phải nghỉ việc ở một công ty mà cô gắn bó chỉ vì theo anh. “Ở đó có mấy thằng lúc nào cũng nhòm ngó đến em”. Hàng ngày, cô đi chợ, nấu cơm rồi chờ anh về. Mặc dù công việc nhàm chán nhưng được lo cho anh, cô cũng chẳng phàn nàn.
Đồng hồ chỉ 5 giờ sang, cô xuống bếp làm vài thứ ăn nhẹ. Hôm nay cô và anh sẽ đi chơi xa sau một thời gian quanh quẩn trong nhà.
…Qua kính cửa xe, Hương ngắm những ngôi nhà mới, những hàng cây xanh tít tắp, những dòng sông nhỏ uốn quanh trên đường mà lòng vui khôn tả.
Xe chạy khỏang hai giờ đồng hồ thì dừng lại ở một làng ven sông, quãng sông này rộng mênh mông, nhìn sang bờ bên kia chỉ thấy màu xanh thấp thóang. Giữa dòng nước trong xanh, những chiếc thuyền buồm no gió đang ào ào rẽ sóng. Thỉnh thỏang vài con tàu chở khách đi qua hú một hồi còi vui vẻ trong tiếng nhạc tưng bừng. Hai người trải tấm vải xuống thảm cỏ dưới hàng cây râm mát, nằm hít thở không khí trong lành và ngắm những bóng nắng lấp lánh qua tán lá cây. Hương cắn vài cọng cỏ, mùi cỏ thơm thơm làm cô nhớ đến quê nhà và những kỷ niệm của thời ấu thơ.
Ăn uống, nghỉ ngơi một lúc, hai người khóac tay nhau đi dọc bờ sông. Họ đi trong im lặng, nghe sóng ồn ã vỗ bờ, tiếng chim ríu rít đó đây, tiếng lá cây xào xạc với niềm hạnh phúc dâng đầy. Đường bờ sông dẫn đến một con đường nhựa, ở đây mọi người đang tắm, đánh bóng chuyền trên cát, quang cảnh thật là náo nhiệt. Hương bỗng reo lên khi thấy một chiếc xe máy nữ của Nhật đang dựng bên đường, cô kéo áo anh nũng nịu:
-Anh này, đã mấy năm rồi em không được đi xe máy, ở Việt Nam em là tay lái lụa đấy nhé, anh thuê cho em đi.
Thỏa thuận một lúc, Tùng cũng thuê được xe máy. Hương nổ máy xe với nét mặt rạng rỡ, anh vừa kịp ngồi lên thì xe đã lao vút đi. Anh ép người vào cô, hai tay ôm chặt lấy tấm thân mềm mại. Mát tóc cô tung bay trong gió, xõa cả vào mặt anh. Anh cắn mấy sợi tóc của cô một cách thích thú và cảm thấy cuộc sống thật tuyệt vời.
Nắng chiều đã nhạt, gió thổi về nghe như lạnh hơn. Trong túi xách của Hương bỗng vang lên tiếng chuông điện thọai. Hương vội vàng nghe máy, đầu bên kia là tiếng nói của Dung:
- Hương này, tao xuống ốp mua được một số hải sản mới chuyển từ Việt Nam sang còn tươi nguyên, 9h tối tao sẽ mang đến chỗ mày làm nồi lẩu ăn cho vui.
Tùng và Hương thu dọn đồ đạc rồi về sớm hơn dự kiến. Xe vừa dừng bánh, Dung đã chờ sẵn với một túi xách nặng trĩu. Cả bọn lên nhà, Tùng vào buồng tắm, mặc cho các cô ríu rít với công việc bếp núc của mình.
Thấy Dung vừa nhặt rau vừa hát, Hương quay lại hỏi:
- Mày có chuyện gì mà vui thế?
- Tao vừa quen được một tay hay lắm, tính cách rất đàn ông, chắc cũng giống anh Tùng nhà mày đấy.
- Vì chuyện ấy mà có bữa ăn hôm nay chứ gì?
Các cô cấu véo nhau cười chí chóe.
Nồi lẩu được bê ra, bốc hơi mù mịt. Những miếng cá hồi, những con cá mực nho nhỏ trắng dần ra trong nước sôi sừng sục. Những nhánh cải cúc xanh rì cũng được cho vào làm nước lẩu càng ăn càng thấy ngọt. Các cô thay nhau gắp vào bát cho Tùng. Anh nhấp một hớp rượu Mac-ti-ni đỏ và hào hứng kể cho các cô nghe câu chuyện ngày xưa dưới thời hà khắc của nhà Tần, tráng sỹ Kinh Kha tình nguyện đi giết Tần Thủy Hòang để mang hạnh phúc cho trăm họ nhưng không thành công, rồi đọc to với giọng bi ai: “Tráng sỹ một đi không trở lại”. Dung hỏi đùa:
- Nếu bây giừ là thời của Tần Thủy Hòang thì anh có dám làm Kinh Kha không?
- Anh sẽ làm như thế - Tùng khảng khái đáp lại.
Hương và Dung cùng rót rượu và đồng thanh:
- Vậy hãy uống mừng cho Kinh Kha của chúng ta.
Cốc rượu vừa nâng lên chưa kịp uống thì cả bọn dỏng tai lên nghe bởi tiếng động lạ, có ai đó đang muốn mở khóa cửa. Tiếng chìa khóa cắm vào ổ vặn đi vặn lại rồi rút ra. Cứ như thế lặp lại đến mấy lần.
Mọi người thấy lạnh ở gáy, tim đập dồn dập, lo lắng nhìn nhau. Hai cô dồn mắt cả vào Tùng nhưng anh vẫn ngồi im lặng, tay chân cứng đơ không có phản ứng gì.
Bây giờ ở cửa lại xuất hiện một mũi dao. Mũi dao nhỏ xoay xoay lên xuống tìm lẫy khóa để bẩy ra. Nhìn thấy mũi dao sáng loáng, các cô hoảng hốt kéo nhau chạy xuống bếp tìm chỗ ẩn nấp. Còn lại một mình, Tùng chạy từ góc này sang góc khác mà không biết phải làm gì. Lưỡi dao vẫn đang xoay xoay nơi ổ khóa, bản năng ham sống trong Tùng trỗi dậy, anh chạy đến góc nhà nhặt vội một sợi dây thừng đang nằm lăn lóc ở góc nhà, buộc một đầu dây vào lò sưởi rồi bám chặt dây đu mình qua cửa sổ xuống đất. Thật không may cho anh, sợi dây không chịu được sức nặng đã bị đứt khi anh chưa chạm đất. Tiếng vỡ của đầu gối nghe khô khốc như que củi gãy khi nơi xuống nền xi-măng làm anh đau buốt. Anh quờ quạng chống tay định ngồi dậy, bàn tay anh nắm vào một chiếc giày, chiếc giày lập tức dẫm lên bàn tay của anh và một bóng người cúi xuống:
- Tao biết thế nào cũng có thằng mang tiền nhảy qua cửa sổ. Nộp tiền thì tao tha cho.
Sự đau đớn và tuyệt vọng làm Tùng ngất đi.
Trên phòng ở, Hương và Dung chạy vào bếp nhưng chẳng có chỗ nào kín đáo lại chạy ra ngòai, vừa kịp thấy mái tóc của Tùng biến mất sau cửa sổ, sợi dây vẫn đang rung rinh. Hương đứng sững sờ, nỗi thất vọng tràn ngập trong lòng. Thần tượng về một người đàn ông chân chính đã tan vỡ trong cô. Cô nắm chặt tay Dung nói:
- Thế là Kinh Kha của chúng ta đã trốn mất rồi!
Cửa phòng bật mở. Hai tên cướp người Trung Á hùng hổ xông vào nhà. Thấy chỗ dựa duy nhất là Tùng đã không còn nữa, Hương bỗng can đảm hẳn lên. Lấy hết sức để trấn tĩnh, cô đứng chắn trước mặt Dung rồi nói rành rọt:
- Chúng tôi cũng có một số dây chuyền, nhẫn và một ít tiền, chúng tôi sẽ nộp cả các anh. Tôi cũng khuyên các anh nên đi nhanh khỏi đây vì tôi đã gọi điện báo cho công an biết, họ cũng sắp đến rồi.
Cô chủ động đưa dây chuyền, nhẫn, trong ví còn một trăm đôla và bảy trăm rúp. Cô đưa cả cho chúng.
Một tên kéo Dung đứng ra rồi giật lấy sợi dây chuyền cô đang đeo trên cổ, xách thêm cái đầu DVD còn mới, hai tên đi nhanh ra cửa. Bọn chúng đi rồi, Hương vẫn chưa hết bàng hòang, cô ôm lấy Dung khóc nức nở.
Một lúc sau, xe công an, cứu thương nối nhau chạy đến. Tùng được đặt lên cáng chuyển ra xe cấp cứu. Đến chỗ xe đỗ, trong ánh đèn pha, anh thấy Hương đang đứng cạnh một chiếc tắc xi, trên tay là chiếc vali nhỏ quen thuộc. Thấy Tùng được đưa ra, Dung bước lại gần đưa cho anh một chiếc phong bì và nói với giọng lạnh lùng:
- Hương gửi cho anh số tiền còn sót lại để anh chữa bệnh. Nó nhắn với anh rằng: từ nay trở đi anh không phải lo cho nó nữa. Nó đã đủ bản lĩnh và nghị lực để tồn tại ở mảnh đất này mà không cần có anh. Chúc anh may mắn.
Trong ánh đèn ô tô, Tùng thấy rõ trên cổ Dung không còn chiếc dây chuyền của bố mẹ tặng mà Dung rất quý, thay vào đó là một vết hằn còn rớm máu. Niềm ân hận và xấu hổ như lưỡi dao cứa vào tim làm anh đau nhói. Anh chợt buông tiếng thở dài, thế là mất tất cả, anh cũng chẳng còn mặt mũi nào để gặp Hương và bạn bè, anh chợt nhớ đến khuôn mặt tin cậy của Hương trong đêm đầu tiên gặp mặt, nhớ tấm thân mềm và mái tóc xõa bay trong gió của buổi chiều nay. Bất giác, anh nhìn vào chiếc đồng hồ đã bị vỡ mặt kính: đã 12 giờ đêm, như thế đã trôi qua một ngày với hai mươi bốn giờ đầy hạnh phúc và cay đắng.

Sông hồng 6-2005
 
Lại cám ơn bác thêm lần nữa. Nhưng 2 chuyện lần này em đọc ko khoái cho lắm. Bởi vì nó ko mấy nói đến cuộc sống của người lao động, hay học tập ở Nga mà theo em hiểu thì nói về tình người và nhân cách nhiều hơn đúng ko ạ. Vẫn là những hoàn cảnh và con người sống ở Nga đó, nhưng ko nhắc đến mấy cuộc sống của người VN tại Nga. Quyển tình yêu hàng chợ kia ko biết có hay ko nhỉ, nếu có thể bác scan rồi gửi lên cho anh em đọc nhá, hoặc em đến chỗ bác mượn được ko ạ. Mong bác tiếp tục post tiếp, em đang theo dõi seri này
 
Chịu khó tí đi VIRUS . Có bài hay nhiều bài hay ít .Mình mỏi tay quá mỗi ngày gõ một ít thôi! bữa nay được thêm nữa này !đọc nhé !
 
Đại gia sáu ngón


Mátxơcơva tháng bảy, trời vẫn mưa xập xùi. Một vài cơn gió hắt nước vào mặt những người khách bộ hành đang lom khom bước vội. Khu chợ ồn ào. vài khuôn mặt nhăn nhó thò ra nhìn trời: “năm nay lại mất vụ hè như năm ngoái rồi”. “Bọn thằng Thái đang méo mặt ra kia kìa, hôm qua vừa ôm một đống quần áo tắm và
quạt về. Trời này thì có mà bán cho hổ”.
Hạnh đứng ở cửa ra vào khu chợ. Lặng lẽ nghe và ngắm nghía những người đồng hương đang ngồi tán chuyện trong các quầy hàng. Lần này cơ quan cử anh sang Nga dự hội nghị khoa học. Anh đã nghe nhiều về các trung tâm thương mại của người Việt nam nhưng chưa biết mặt mũi nó thế nào?. Những người Việt nam ở đó làm ăn ra sao?. cuộc sống tinh thần thế nào? Tính tò mò làm anh bỏ cả một ngày nghỉ, lặn lội tìm đường xuóng đây.
Một chiếc xe tải loại nhỏ từ ngoài đường cái lặng lẽ đội mưa đi vào dừng trước cửa. Aò ra một đám cửu vạn không hiểu từ đâu. Chẳng kể mưa gió, bùn đất nhớp nhúa, kẻ chuyển hàng từ xe xuống. Người vác lên vai, chạy thình thịch vào nhà. Vừa chạy vừa hô ầm ĩ”Tránh đường nào, tránh đường nào”. Một thùng hàng to vật được chuyển xuóng. Ông cửu vạn ghé vai. Không biết là do thùng hàng nặng hay đường trơn mà cả người và hàng ngã kềnh ra đất. Tay chân, quần áo dính đầy bùn đất. cái mũ lưỡi trai văng ra. Hạnh chạy vội đến, cầm tay kéo dậy. Anh chợt thấy bàn tay ông cửu vạn có sáu ngón và nét mặt quen quen. Thôi đúng rồi! Thằng Việt, thằng Việt đại gia ở thành phố Vinh. Nhưng sao nó lại ở đây làm cửu vạn? nó giàu lắm kia mà! Nửa tin nửa ngờ anh hỏi nhỏ:
- xin lỗi, anh có phải là Việt ở thành phố Vinh khong?
-Làm sao anh biết tôi? Ông cửu vạn vừa phủi phủi tay vừa hỏi lại.
Hạnh thở dài:
-Anh không nhớ tôi cũng phải. Cách đây mấy năm tôi đi công tác ở Vinh. Anh và tôi cùng dự sinh nhật của một người bạn. Tôi được nghe giới thiệu anh là một đại gia đang ăn nên làm ra. Bàn tay sáu ngón của anh tôi thấy khi nâng cốc làm tôi nhớ mãi. Họ cũng giới thiệu tôi với anh nhưng anh cũng không chú ý lắm.
Nhìn Việt nặng nhọc chuyển thùng hàng, Hạnh thấy ái ngại: “cuộc sống chẳng biết trước được điều gì. đúng là lên voi xuóng chó”
Theo đề nghị của Hạnh, Việt thay quần áo. hai người dẫn nhau lên nhà hàng nằm ngay tầng ba trong trung tâm thương mại. Phòng ăn được trang trí tao nhã và ấn tượng. Những bức tranh phong cảnh nổi bật trên nền tường đỏ. Khăn trải bàn màu hồng được điểm tô bởi nhũng bông hoa màu tím. Ngồi trong căn phòng ấm cúng này không ai biết rằng ngoài kia trời đang mưa và gió. Đĩa bê xào được mang ra bốc khơi thơm phức. Hạnh lại gọi tiếp một đĩã dê tái chấm tương gừng. Việt nhấp hụm rượu rồi khà một tiếng:
-Đã lâu lắm rồi mới có một bữa ăn đàng hoàng như thế này. Ngày trước ở Việt nam muón ăn gì cũng có, tôi thích nhất là món thịt dê ở phố Hồng Bàng gần nhà tôi. còn sang bên này suót ngày đầu tắt mặt tối, “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” thế mà cũng chỉ đủ ăn. chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện mua sắm hoặc đi ăn nhà hàng.
Hạnh giọng trầm hẳn xuóng, xót xa:
-Tại sao lại ra nông nỗi này? ngày ấy anh giàu có lắm kia mà?
Việt lặng yên nhìn cốc rượu. Những giọt rượu sóng sánh đưa anh trở về những ký ức xa xăm…
*
* *
Huyện Quỳ Châu bước vào mùa mưa. Mưa ào đến rồi đi rất nhanh. Sườn đồi nham nhở các hố đào đá đỏ như những mụn cóc. Bọn đào đá lấm lem như nhũng con trâu đất. hì hục tát nước, đào đất, sàng sẩy trong hy vọng mong manh. Việt và hai thằng bạn nối khố cũng đi theo dòng người lũ lượt kéo lên đào đá đỏ với hy vọng được giàu có trong chốc lát. Nghe đâu trước đây có một só người đã đào được đá đỏ, có viên bán đườc hàng mấy trăm triệu. Bõng chốc đổi đời, đang cày ruộng nhảy lên làm chủ nhà hàng, khách sạn, đang ở nhà tranh vách đất sang ở nhà bê tông cốt thép có những ba, bón tầng. Nghe thế, ai mà không ham.
Bọn Việt đã đào được gần một tháng.Gan bàn tay nổi lên những cục sạn bằng ngón tay. Sờ vào ram ráp như sờ vào gạch nung quá lửa. Thức ăn chạy từng bữa, đêm chỉ ngủ vài ba tiếng thế mà vẫn không thấy mặt mũi hòn dá đỏ ra làm sao. Mà hiểm nguy luôn rình rập quanh mình Hôm qua nghe tiếng chân chạy rầm rập. Tiếng người ồn ào. Lúc Việt chạy ra thì từ cái hố bị sập, người ta mang ra hai thi thể đầy bùn đất, chết co quắp trong tư thế ngồi. Tay vẫn nắm chặt cái cán xẻng. Hôm nay lại có tiềng súng nổ. Mọi người nhớn nhác. Một ông già thì thầm rằng trên đồi có người đào được đá đỏ. Bọn cai và đầu gấu đến chia phần, cãi nhau. đánh nhau rồi súng nổ. Thế vào ngày này năm sau lại có người làm giỗ đầu rồi.
Bọn Việt nản quá. Cả bọn quyết định đãi xong số đất đã đào thì nghỉ luôn, sáng mai về quê. Bỗng thằng Hùng buông cái sàng xuóng, tay run bần bật. Nói lạc cả giọng:
-Đá! đá đây rồi.
Mắt mọi người dán cả xuống tay thăng Hùng. Nó nhặt một viên, nhổ vào đó một bãi nước bọt rồi lau vào áo. Viên đá sáng lên màu hồng mà người ta thường gọi là ru bi. Cả bọn nín thở nhìn lên miệng hố. May quá! Không một ai biết cả. Cả bọn thì thầm bàn bạc rồi một thằng lên ngồi canh chừng trên miệng hố. Không khí căng như dây đàn. Gần một tiếng đòng hồ sau, toàn bộ đá đỏ trong vỉa đã được gói lại, giắt kỹ vào lưng quần. Việt giơ cao xẻng, lao mạnh xuống chân. Máu chảy lênh láng. Hai thằng kêu la ầm ĩ , khênh Việt lên miệng hố, cố tình cho mọi người đang xô nhau chạy đến thấy vết thương đang chảy máu. Việt bỗng lịm đi. Thằng Hùng kêu to:
-Thằng Việt bị ngất rồi. nhanh mang đi trạm xá.
Vừa hô, Hùng vừa xốc Việt lên vai, thằng còn lại đỡ chân. Cả ba lặc lè chạy xuống chân đồi. Mọi người nhìn theo thở dài ái ngại. Ra đường cái, vẫy được một cái xe tải, ba thằng trèo lên xe. Xe chạy được một quãng, Việt ngồi nhỏm dậy, cả bọn phá lên cười:
- Ngang với mẹo Khổng minh, chuồn êm mà không ai biết là đang mình trúng quả.
Thằng Hùng hát trước, hai thằng kia hát theo điệu hát xẩm “Anh đi đào đá đỏ, ở vùng mỏ Quỳ châu, anh biết tìm đâu, đào đâu ra đá đỏ, trời thương ai thì có…”
Dân thành Vinh xôn xao, các bà buôn chuyện ngồi hết chỗ này đến chỗ khác. chỉ trỏ, thầm thì mỗi khi thấy Việt trong bộ quần áo đúng mốt, phóng xe spẽxi mới cứng đến kiểm tra khách sạn sáu tầng mới mua ở trung tâm thành phố. Người ta không còn thấy bóng dáng của một anh thợ sửa chữa điện đầu phố nữa mà là một ông chủ sành điệu. Mọi người gọi Việt là “Đại gia saú ngón”.
Tối thứ bảy, Việt đưa Thảo đi uống cà phê. Thảo là một cô giáo, hiền lành, tốt bụng. Hai người thân nhau đã lâu “tình trong như đã, mặt ngoài còn e”, nhưng chưa một ai dám nói. Việt xúng xính trong cái áo trắng ngắn tay, quần ly thẳng tắp, cái cà vạt màu hồng có những bông hoa màu vàng tô điểm làm anh ra dáng ông chủ lắm rồi. Quán cà phê nằm khiêm tón trong con đường nhỏ. Xe vừa dừng bánh, người thanh niên trông xe đã nhanh nhẹn ra đón. Hai người theo cầu thang ngoài sân lên tầng hai. Quang cảnh ở đây thật tuyệt vời. Xen vào các chỗ ngồi là những loại cây xanh cao thấp khác nhau cùng với những cây hoa đủ các sắc màu, toả ra mùi thơm nhẹ nhàng và tinh khiết. Việt chọn chiếc bàn gần cửa sổ. Không gian tĩnh lặng, chỉ có tiếng nhạc du dương lẫn trong mùi thơm của hoa, của lá. Anh lặng yên ngắm Thảo trong ánh đèn huyền ảo. Khuôn mặt dễ thương và ánh mắt tràn đầy hạng phúc của Thảo làm niềm yêu thương dâng tràn trong anh. Anh muón được ôm lấy cô, được hôn lên đôi mắt đen lóng lánh, lên làn môi tươi tắn và đôi má hồng hào kia nhưng không dám. Hai người im lặng, mân mê ly cà phê trong tay. chỉ có ánh mắt, ánh mắt đã nói hộ lòng mình.
Một tuần lại qua mau. Bãi biển Cửa lò buổi chiều lộng gió. Những con sóng xô bờ tung bọt trắng xoá. Việt và Thảo khoác tay nhau đi dọc bờ biển, tránh xa những đám đông đang ồn ào ăn uống, chuyện trò. Họ nói nhiều với nhau về tình yêu, về tương lai cuộc sống, về kế hoạch tổ chức đám cưới sau một thời gian không xa nữa.
-Anh thích đứa đầu lòng là gái hay là trai?
-Con nào cũng được vì đó là tình yêu của anh và em.
Thảo gục đầu vào vai Việt. Anh vuốt ve những sợi tóc mềm của cô. Cả hai đều nghĩ rằng trời sinh ra họ là để giành cho nhau. Họ ôm nhau cùng ngắm những con sóng bạc đầu, những con thuyền câu bồng bềnh trên sóng. Một người đàn bà bán tôm xuất hiện. Bà cười cầu cạnh:
-Anh chị mua hộ mớ tôm, tươi giãy đành đạch, giá chỉ 70 ngàn đồng thôi.
Việt cảm ơn rồi lắc đầu. Hai người tiếp tục đi , được một quãng lại nghe tiếng bước chân chạy theo. Vẫn bà bán tôm lúc nãy:
-Anh chị mua hộ đi, bây giờ tôi chỉ lấy 30ngàn thôi!
Thảo dừng lại, lấy 30 ngàn đồng trong túi xách đưa cho bà rồi nhẹ nhàng:
-Bác cầm lấy số tiền chúng cháu mua tôm, còn só tôm này chúng cháu gửi cho các cháu ở nhà.
Bà bán tôm cảm động, đứng lặng người, không nói nên lời.
Trong trung tâm thành phố, gần khách sạn của Việt là dãy phố karaôkê. Quán karaôkê “Chiều tím” đêm nay vắng khách. Ly Ngân bực bội đi đi lại lại. Nét mặt cau có. Dãy lông mi không chịu chải sợi ngược sợi xuôi. Thỉnh thoảng lại xỉ mũi ra ngoài, cũng chẳng buồn xem mấy giọt mũi bay về đâu. Có tiếng xe máy dừng trứớc cửa, Tuấn bước vào nhà. Vẻ bực bội biến mất, Ly ngân ôm chầm lấy Tuấn, giọng hờn mát:
-Cứ tưởng quên con này đi theo con nào rồi- và chuyển sang nũng nịu-Anh chuẩn bị mà tổ chức đám cưới. Em dính rồi đấy.
-Em vừa nói gì? dính cái gì? Tuấn giật mình hỏi lại.
-Em bảo anh chuẩn bị đám cưới, em có thai rồi.
Tuấn hoảng hốt:
-Không được, không được, anh thì trên răng dưới ca tút lấy gì mà cưới. Với lại ai mà biết được có phải con của anh hay không? Em xích được thằng nào thì xích , còn anh thì xin cho anh hai chữ bình yên..
Tuấn đi ra như chạy, chiếc xe biến mất trong đêm tối.
Nhà Việt hôm nay bận rộn. Có mấy thằng ban thân đến chơi. Chén chú chén anh từ chiều tối đến khuya. Khi đã ngà ngà, cả bọn đòi đi hát karaôkê cho giã rượu. Tất cả kéo nhau sang quán “Chiều tím” ở gần đấy. Thấy bọn Việt đi vào, Ly ngân gọi với vào nhà:
-Này các em, chuẩn bị tiếp khách.
Các cô chạy ra, mỗi cô khoác tay một người đi vào nhà. Vuốt tóc, sửa áo, lấy khăn lạnhvà gần như đồng thanh:
-Mình ơi! ngồi ngoan để em lau mặt cho mình nào.
Ly ngân đã nhận ra Việt, mắt sáng lên, miệng nở nụ cười bí hiểm.Tự mình phục vụ anh. Cô nũng nịu, vuốt ve ép cho anh uống thật say. Vốn không biết uống rượu, lại hay cả nể, chỉ sau mấy chén, Việt nhìn một Ly Ngân thành ba Ly ngân. Hát méo cả tiếng, mỉcrô suýt rơi mấy lần. Một lúc sau thì gục xuống đi văng nửa thức nửa ngủ. Ly ngân gọi một cô gái đến thầm thì rồi nói với các bạn của Việt:
-Các anh cứ vui vẻ, các em sẽ chiều hết mình. Em đưa anh Việt về nhà rồi sẽ quay lại ngay.
Mặc cho mấy anh bạn say phản đối, Ly Ngân gọi xích lô về khách sạn của Việt. Mấy nhân viên bảo vệ vội đưa Việt vào phòng nghỉ. Ly ngân phớt lờ ánh mắt dò hỏi của mọi người. Chờ mọi người ra cửa, cô tung tăng chạy nhảy trong phòng. tò mò ngắm thành phố đêm qua cửa sổ, ngồi nhún nhún trên cái gường êm mà từ nhỏ đến bây giờ cô mới được nằm. Việt ú ớ đòi uống nước. Cô lấy nước cho anh rồi tự cởi hết quần áo của anh mà không chút ngượng ngùng. Cô dùng tất cả những kỹ thuật và kinh nghiệm gợi tình mà cô đã học được, xoa bóp vào các điểm nhạy cảm nhất của con người. Việt quằn quại trên giường, nửa mê nửa tỉnh rồi ôm Ly ngân vào lòng, thế là ý định của Ly Ngân đã được thực hiện….
Thời gian qua nhanh, Việt háo hức chuẩn bị cho ngày cưới, nào khách mời, hội trường, ban nhạc…Thảo cũng tất bật nhưng vui vẻ, nụ cười luôn nở trên môi. Chiều hôm đó, Việt và Thảo đang chuẩn bị ra phố lấy nhẫn cưới thì Ly ngân đẩy cửa bước vào. Chẳng chào ai, cô ta ngồi phịch xuống ghế, với tay lấy chai nứơc trên bàn uống ừng ực rồi đưa cho Việt một tờ giấy:
-Anh xem đi, em đã có thai rồi đấy. Chúng mình phải tổ chức đám cưới đi thôi. bụng mang dạ chửa thế này bố mẹ em mà biết thì chêt.
Việt và Thảo ngơ ngác, không hiểu chuyện gì. Việt lắp bắp:
- Chuyện này là thế nào? Tôi không hiểu.
-Anh cứ giả vờ quên, cái đêm anh đưa em từ quán karaôkê về khách sạn, chúng ta đã có một đêm đầy hạnh phúc và kết quả là chúng mình sắp có con.
Thảo lặng người, đau đớn. Cô xô cửa chạy ra ngoài mặc cho Việt gọi với theo.
Một tháng sau, đám cưới của Việt vẫn được tổ chức nhưng tên cô dâu trong thiếp mời không phải là Thảo mà là Ly Ngân. Ngòi trên bàn chú rể mà Việt vẫn bàng hoàng về những điều vừa xẩy ra. Anh làm các thủ tục chúc tụng, trao nhẫn như người vô hòn. Hình ảnh Thảo lúc nào cũng hiện lên trước mắt anh. Nhân chương trình ca nhạc, anh sang phòng bên gọi điện về nhà Thảo. Bà ngoại cô cho biết cô bị óm nặng, đang nằm trong bệnh viện hiện nay đang mê man trong cơn sốt, mặt mày hốc hác, miệng lảm nhảm những câu không ai hiểu được. Việt đau đớn, chiếc điện thọai di động rơi xuóng đất lúc nào không biết.
Tuần trăng mật . Việt xoa xoa cái bụng đã lùm lùm của Ly ngân khẽ nói:
- Mới hai tháng mà đã to ghê.
-Bốn tháng rồi chứ hai tháng gì.
Đang buồn ngủ, Ly ngân trả lời không kịp suy nghĩ, Cô ta giật mình biết đã nói hớ. Việt ngồi dậy và thương Thảo vô cùng khi biết cái thai trong bụng Ly Ngân có trước hôm xẩy ra chuyện ở quán karaôkê “Chiều tím”. Anh chán nản bỏ đi lang thang chơi với bạn bè, hết ngày này đến ngày khác, không muốn về nhà. Mấy lần anh tìm gặp Thảo nhưng cô lánh mặt. Một hôm Việt nhận được điện của thằng Hùng. Nó chuẩn bị cưới vợ mãi tận Sài gòn, nhắn anh phải vào với nó một tháng, anh mua vé máy bay vào ngay hôm sau.
Tiếng chuông cửa reo một bản nhac du dương, LyNgân ra mở cửa. Tuấn bước vào, cười nhăn nhở:
-Cứ tưởng vinh hoa phú quý thì quên thằng này rồi?
-Quên là quên thế nào, em chỉ yêu mỗi mình anh thôi.
Cánh cửa sập lại, hai người dìu nhau lên gường, Tuấn với tay tắt đèn, căn phòng trở nên huyền ảo.
Việt bay từ Sài gòn ra trên chuyến bay tối. định ở chơi một tháng thế mà phải gần hai tháng vợ chồng thằng Hùng mới thả cho về. Khi xe tắc xi về qua khách sạn, anh ngạc nhiên khi thấy tất cả đèn của khách sạn tắt hết. Anh lại gần cửa bàng hoàng khi thấy tờ gấy niêm phong dán trên ổ khóa. Anh vội gọi đIện cho người quản lý, giọng anh ta buồn buồn:
-Khách sạn và nhà ở của anh bị niêm phong hết rồi. Chỉ vừa mới hôm nay, lúc chiều em gọi cho anh nhưng không được, chắc lúc ấy anh đang ở trên máy bay. Ngân hàng thông báo là chị Ly ngân đặt giấy tờ nhà và khách sạn vay một số tiền rất lớn, hình như năm tỷ thì phải.
-Thế chị Ly ngân đâu?
-Bọn em không tìm được chị ấy. Nghe nói chị ấy đi sài gòn hay đi Nga gì đấy. Cả bố mẹ chị ấy cũng không biết chị ấy đi đâu.
Việt ngồi ôm đầu. Thế là lại trắng tay. Tất cả qua nhanh như một giấc mơ.
*
* *

Việt ngừng kể, uống luôn hai chén. Hạnh rót thêm một chén. Việt lại uống cạn. Hạnh thở dài, ái ngại:
-Tại sao anh lại sang đây?
Việt cười chua chát:
-Còn gì nữa đâu mà ở nhà. Đi đâu cũng thấy mọi người bàn chuyện của mình. Tốt nhất là đi đâu thật xa cho khuất mắt. Thế là bán cái xe máy, đủ tiền bay sang đây. Tôi đã xin việc ở nhiều nơi nhưng cái nghề thợ điện của tôi cũng ít ai cần đùng. Bán hàng thì không có vốn. Chỉ có làm cửu vạn ”Tay không bắt giặc”là phù hợp mà thôi.
Anh thò tay vào túi áo lần tìm rồi đưa cho Hạnh một bức thư đã nhàu nát, chứng tỏ bức thư này đã được đọc đi đọc lại rất nhiều lần. Hạnh mở ra. Những nét chữ đẹp và mềm mại hiện ra, trong đó có đoạn:
“Em đã biết tất cả mọi chuyện của anh, kể cả cuộc sống của anh bây giờ, trước kia em giận anh chừng nào thì bây giờ em thương anh chừng ấy. Hay là anh về nhà, chúng mình no đói có nhau...”.
Hạnh mân mê bức thư rồi hỏi:
-Bây giờ anh định thế nào?
-Còn mặt mũi nào mà gặp cô ấy nữa.
Việt khẽ thở dài rồi uống cạn chén ruợu.
Hai người cùng im lặng. Mỗi người theo đuổi một ý nghĩ khác nhau. Hạnh nhớ đến chuyện ông lão đánh cá và con cá vàng với cái máng lợn ăn sứt mẻ. Việt đẫ bắt đầu ngà ngà say. Mắt mơ màng nhớ về nơi đâu đó xa xăm, tay cầm đũa gõ nhịp vào bát, miệng ê a hát một điệu hát xẩm “ Anh đi đào đá đỏ, ở vùng mỏ Quỳ châu, anh biết tìm đâu , đào đâu ra đá đỏ…”
Tiếng hát gãy gữa chừng, ngoài cửa sổ trời vẫn mưa tý tách, những giọt mưa như những giọt buồn trong lòng người xa xứ.

Ko hếu!
 
Tình yêu hàng chợ


Tuấn vươn vai ngồi dậy, vặn lưng mấy cái rồi đi ra cửa sổ. Gió ban mai trong lành nhè nhẹ thổi làm anh tỉnh táo hẳn lên. Phóng tầm mắt ra xa, sắc màu rực rỡ của hoa, của lá và những âm thanh náo nhiệt của cuộc sống làm trong anh trào lên một niềm hứng khởi cao độ. Anh bỗng muốn được hát , muốn được nhảy lên để thể hiện sự vui vẻ của mình. Anh tự hỏi tại sao mình lại vui như vậy? Có phải vì anh đang ở gần dòng sông Mat xcơva trong xanh hay điện Kremlin cổ kính? Có phải vì trước mắt anh đang mở ra trước mắt một tương lai sán lạn? Tất cả đều không phải. Anh mới chân ướt chân ráo từ Việt nam sang được mấy ngày, những địa danh trên anh chỉ mới nghe tên chứ chưa được nhìn thấy bao giờ và tương lai vẫn còn mờ mịt lắm. anh đứng lặng nhìn qua cửa sổ: trời đất bao la, không có gì vướng trên tầm mắt. Anh bỗng hiểu ra rằng: điều làm anh vui chính là sự tự do. Anh bây giờ hoàn toàn tự do, có thể chơi, có thể ngủ hoặc làm bất cứ điều gì mà mình thích. Cuộc đời anh đã chuyển sang một bước ngoặt mới. Anh nhớ rất rõ, mới mấy ngày trước đây thôi, sáng nào anh cũng phải dậy sớm đưa hai đứa con đi học, về nhà ăn một chút gì lót dạ rồi mang thùng đồ nghề ra ngã ba đường. đã gần 10 năm anh làm nghề chữa xe máy ở cái ngã ba đường nối từ đường quốc lộ số một vào xã của anh. Trời phú cho anh đôi bàn tay khéo léo nên tất cả mọi công việc từ vá xăm, chữa máy, gò vỏ… tất tất đều làm được. Bởi vậy thu nhập cũng tạm ổn. Buổi tối về nhà, anh xách nước gúp vợ anh rửa chuồng hoặc tắm cho lợn. Anh thương cô vợ tần tảo, chịu thương chịu khó, đầu tắt mặt tối nơi đồng ruộng, hết mùa gặt lúa lại đến vụ trồng khoai, nỗi vất vả cứ từng ngày, từng ngày hằn lên thành những rãnh sâu trên khuôn mặt sạm đen của chị. Anh nhớ lần có mấy người khách vào xin nước uống, họ chào anh bằng anh nhưng họ lại gọi vợ anh bằng bác. anh chạnh lòng khi thấy những nét buồn hiện rõ trong mắt chị mà thầm trách những ông khách vô tâm.
Dịp tết vừa qua, thằng em họ buôn bán ở Nga về phép. Mua nhà to ở Hà Nội, về quê bằng xe ngoại bóng loáng. Anh không biết là xe gì nhưng nghe đâu đắt tiền lắm. nó còn mang cả thùng kẹo có in cái chìa khóa vàng vàng về phát cho lũ trẻ, không phân biệt có họ hàng hay không có họ hàng. Cả làng đâu đâu cũng bàn tán về nó, phục lăn phục lóc. anh bỗng thèm được như nó. Anh cũng muốn đổi đời. Muốn sang Nga làm ăn một chuyến xem số mình thế nào. Thằng em chăm chú nghe ông anh trình bày nguyện vọng, hứa sẽ đưa sang và cho vay một ít vốn để làm ăn. Ngày tiễn nó ra đầu làng, Anh nhìn theo chiếc xe ô tô đang khuất dần, ôm niềm hy vọng thầm kín. Sau hai tháng đằng đẵng đợi chờ, thằng em đã giữ lời hứa, Tuấn nhận được giấy mời, bùi ngùi từ biệt bà vợ tần tảo và hai đứa con ngoan ngoãn, bay sang Mat xcơva.
Những ngày đầu ở chung với thằng em, Tuấn sống thật vui vẻ, ăn uống có người lo, muốn làm gì thì làm, chỉ thỉnh thoảng đang ngủ lại choàng dậy, loay hoay tìm thùng đồ nghề theo phản xạ như khi bị ngủ quên lúc còn ở nhà, Sau một lúc ngơ ngác nhìn lên trần nhà mới nhớ mình đang ở nước Nga lại nằm xuống ngủ tiếp.
Một hôm thằng em gọi Tuấn vào phòng đưa cho 4000 đô rồi bảo:
-Em cho anh vay số tiền này để anh lập nghiệp. Anh nên đến trung tâm thương mại Hồng lam thuê một phòng bán hàng để kinh doanh, còn ăn ở thì anh tìm phòng nào có thể ở ghép được thì ở chung với họ cho đỡ tốn kém.
-Theo chú thì anh nên kinh doang mặt hàng nào?
-Tính anh cẩn thận, nên buôn bán đồ lót, loại này không cần nhiều vốn nhưng lãi suất cao.
Thấm thoắt một tháng nữa trôi qua, Tuấn đã thuê được một cửa hàng, mọi thứ cần thiết đã chuẩn bị xong, chỉ chờ ngày tốt là khai trương. Anh cũng tìm được một chỗ ở chung trong phòng với mấy người độc thân. việc cuối cùng là cắt tóc, cạo râu cho chỉnh tề, chuẩn bị cho ngày đầu ra quân.
Phòng cắt tóc nằm ở tầng 4, trên tường treo la liệt các diễn viên nổi tiếng với các kiểu tóc khác nhau. Hai cô gái đang cắn hạt dưa chờ khách. Tuấn ngập ngừng bước vào. một cô nhanh nhảu:
-Mời anh vào cắt tóc.
-Cảm ơn chị.
-Âýy em còn ít tuổi. Anh đừng gọi chị mà em già đi.
Tuấn nở nụ cười nhận lỗi rồi rón rén ngồi xuống ghế. Cô gái có tên Lài vui vẻ làm quen với anh. chỉ một lúc sau, hai người đã chuyện trò rôm rả như những người đã quen biết từ lâu. anh kể chuyên mới sang và dự định của mình. Lài chăm chú lắng nghe, gật gù biểu hiện sự đồng tình. Tuấn nhận thấy thấy Lài là một cô gái xinh xắn, mắt bồ câu đen láy, da không trắng nhưng nụ cười rất có duyên. tóc nhuộm màu hung xen lẫn mấy mảnh màu vàng trông như diễn viên điện ảnh. Người cao dong dỏng, chiếc áo màu tàn thuốc được bỏ gọn gàng trong chiếc quần bò màu xanh ống hơi đá loe nhìn thật hấp dẫn. Anh bỗng thấy rạo rực trong lòng. Cắt tóc xong, Lài thay tấm vải choàng mới rồi nhẹ nhàng bảo anh:
-Thường thì em chỉ cắt tóc mà không gội, nhưng hôm nay có anh nên em phá lệ. Em sẽ tự gội đầu cho anh.
Lài cho một ít dầu gội lên tóc anh, nhứng ngón tay mềm mại gãi nhè nhẹ lên đầu làm anh thấy dễ chịu và thoải mái. đang lim dim mắt anh chợt bừng tỉnh, sống lưng như có luồng điện chạy qua khi hai khối mềm mềm và ấm đang áp vào lưng mình. Một cảm giác đê mê, lâng lâng chạy trong người. Anh ngồi thật im, không dám cựa quậy, chỉ sợ cựa quậy thì cảm giác đó sẽ biến mất. Anh bỗng thấy xung quanh vắng lặng, nghe rõ cả tiếng gãi đầu sột soạt và tiếng thở gấp gáp của Lài trên đầu.
Sau lần gội đầu đầy ấn tượng ấy, cứ ba ngày Tuấn lại đến để Lài gội đầu một lần. mãi thành quen, thiếu không chịu được. Một lần Lài hỏi anh:
-Bây giờ anh dùng loại máy di động gì?
-Thằng em vừa cho anh chiếc máy nôkia dùng hệ bilai.
-Anh cho em số máy để thỉnh thoảng em viết thư cho anh.
Lài thực hiện lời hứa. Ngay đêm hôm đó, điện thoại của Tuấn nhận được bức thư đầu tiên: “ Anh! Không biết giờ này anh đã ngủ chưa? em thì vẫn còn hai khách đợi. Mệt lắm rồi. Anh có thương em không? Chúc anh ngủ ngon.”
Tuấn vội vàng lôi thằng bạn cùng phòng đang thiu thiu ngủ dậy, nhờ nó dạy cho cách viết thư qua điện thoại. Học xong cũng phải loay hoay gần một giờ đồng hồ, Tuấn mới gửi được cho Lài mấy dòng: “ Anh cũng không ngủ được vì đang nhớ em, thương em nhiều. Anh sẽ ngủ khi em xong việc.”
Thế rồi dù ban ngày đã gặp nhau, ban đêm vẫn thư đi thư lại, lời lẽ trong thư ngày càng thắm thiết hơn. Tuấn đắm mình trong hạnh phúc. Một buổi trưa ngày thứ hai, ngày vắng khách nhất trong tuần, Tuấn gọi điện cho Lài:
-Hôm nay chợ vắng, anh muốn gặp em có được không?
-Bao giờ hả anh?
-Ngay bây giờ! Nhà anh bây giờ không có ai ở nhà cả, chẳng ai làm phiền chúng ta đâu.
Lài đồng y ý. Tuấn chạy vội về nhà, sắp xếp lại đồ đạc đang vứt bừa bãi, trải lại tấm ga giường cho phẳng phiu rồi ngồi đợi. Anh thấy hồi hộp như mới yêu lần đầu của tuổi hai mươi. Có tiếng gõ cửa nhè nhẹ, Lài bước vào nhà, trông cô lộng lẫy trong bộ quần áo màu hồng và mùi nước hoa thoang thoảng. Tuấn khóa cửa lại. Lài gục đầu vào vai anh. Mùi tóc thơm dịu dàng làm anh ngất ngây, tưởng mình đang lạc vào tiên cảnh. Anh dìu cô xuống giường. Cô ôm chặt lấy anh, gắn vào môi anh một nụ hôn nồng cháy. Tuấn như mê đi, bàn tay anh lần tìm cúc áo của cô. chiếc cúc áo thứ nhất, thứ hai được cởi ra. Khi anh chạm đến chiếc thứ ba thì Lài giữ tay anh lại, giọng cô nũng nịu:
-Anh này! em không muốn làm chung với con Bình nữa đâu. anh mua cho em cái phòng cắt tóc đấy. Em muốn làm một mình để có thể gặp anh được nhiều hơn.
Tuấn tỉnh hẳn, bàn tay anh rơi từ khuy áo thứ ba xuống tận đầu gối cô. sau vài phút trấn tĩnh, anh nói như người có lỗi:
-Anh làm gì có tiền, thằng em cho anh vay một ít chỉ đủ để thuê phòng và lấy một ít hàng. Em thông cảm cho anh được không?
Lài đứng phắt dậy. nét mặt đang tươi roi rói vụt biến mất, thay vào đó là nét mặt lạnh lùng không biểu hiện một thứ tình cảm gì. Cô xốc lại quần áo, bước nhanh ra cửa, cánh cửa sập mạnh phía sau lưng.
Tối hôm đó, Tuấn gọi cho Lài mấy lần nhưng lần nào cũng được nghe một câu quen thuộc “ Số máy hiện nay không liên lạc được, xin quýy khách vui lòng gọi lại sau”. Anh đi qua phòng cắt tóc. Mọi người niềm nở chào anh, chỉ có Lài cắm cúi làm việc, không ngẩng đầu lên, như không biết có anh đang ở đó. Anh muốn gội đầu. Bình gội cho anh, còn Lài không gội cho anh một lần nào nữa. anh nặng nề đi về như một kẻ chiến bại. Sự hụt hẫng làm anh mất thăng bằng: Tại sao Lài có thể quay mặt đi khi tình cảm hai đứa đang rất nồng thắm? Tại sao cô ta không hiểu được tình cảm anh giành cho cô nhiều biết chừng nào? anh không giúp được cô không phải vì anh không muốn mà vì hoàn cảnh, như người ta thường nói: “bàn tay ngắn hơn tấm lòng”.
Vĩnh biệt mối tình đầu nơi đất khách, anh tập trung vào chuyện làm ăn. anh nhanh chóng học thuộc các từ chỉ màu sắc, các số đếm và một vài câu khen khách hàng như “ cô đẹp quá”, “ chị mặc bộ này rất hợp” …gian hàng của anh trừ một ít áo ngủ còn lại chủ yếu là đồ lót. nam nữ đủ cả, muôn màu muôn vẻ. Nhất là áo con của phụ nữ có nhiều màu sắc sặc sỡ, đen pha lẫn vàng lại có cả những viền đỏ xung quanh. Những lần đầu anh còn ngượng ngùng khi cầm bộ quần áo con kéo ra thử độ co giãn cho khách xem, nhưng những lần sau anh còn vui vẻ nhìn xem khách hàng béo hay gầy để chọn áo con cho họ. Việc buôn bán của anh ngày càng thuận lợi, học hành cũng thế, chỉ có một số từ tiếng Nga vẫn hay nhầm lẫn. Đồ lót tiếng Nga gọi là líp trich thì anh vẫn gọi nhầm thành xích líp, không biết có phải vì thói quen nghề nghiệp từ ngày xưa hay không. Chẳng thế mà có lần mọi người xung quanh cười ngặt nghẽo khi nghe anh trả lời điện thoại cho thằng em: “ Hôm nay chắc móm nặng, từ sáng đến giờ mới bán được hai đôi xích líp”. Tuy vốn tiếng Nga khiêm tốn, nói bằng tay nhiều hơn bằng lời nhưng khách mua hàng của anh càng ngày càng đông thêm, chắc họ tin vào dáng vẻ mộc mạc của anh.
Một buổi chiều, anh đang loay hoay xếp lại mấy bộ áo con thì nghe tiếng con gái nói rất nhẹ nhàng:
-Em chào anh ạ!
Anh ngẩng đầu lên. một cô gái đang tươi cười đứng trước quầy hàng của anh. Phải nói cô này rất đẹp. Nước da trắng mịn, hồng hào. mắt to và sáng. Lại được cả vóc dáng nữa, người cao dong dỏng, áo mút đen ôm lấy eo người tròn lẳn nhìn thật hấp dẫn. Anh bỗng thấy vui vui, buột miệng hỏi đùa:
-Em thấy của hàng xích líp của anh thế nào? thích thì anh tặng cho một bộ.
-Cảm ơn anh nhưng em chỉ dùng đồ mua ở siêu thị thôi.
Cô gái cũng đùa lại.
Hai người chuyện trò vui vẻ, cô gái tự kéo ghế ngồi. Tuấn chạy ra quầy hàng nước, mua 2 cốc chè đỗ đen mang về, hai người vừa ăn vừa kể chuyện của mình.
-Tên em là Hồng, hồng là màu hồng chứ không phải là quả hồng-cô gái nhấn mạnh-nghĩa là chỉ để ngắm chứ không phải để ăn đâu nhé.
Câu chuyện đang đoạn cao trào thì mọi người xung quanh lục tục đóng cửa ra về. Tuấn nhìn đồng hồ, đã 7 giờ chiều. Thời gian trôi nhanh thật, Mới đó đã hết ngày, thấy chuyện đang vui, anh đề nghị:
-Đã chiều rồi, chúng mình lên nhà hàng, ăn cái gì đấy rồi vào quán karaôkê hát mấy bài cho vui.
Hồng gật đầu đồng ýy.
Hai người ăn bữa cơm chiều thân mật. Hồng kể chuyện mình mới sang Nga và những dự định làm ăn sắp tới. Tuấn chăm chú nghe nhưng không nói gì. Sau bữa cơm, Hồng khoác tay Tuấn vào quán Karaôkê. ánh đèn đỏ mờ mờ chiếu vào khuôn mặt làm cô thêm phần xinh đẹp. Tuấn gọi hai cốc nước cam, hai người cùng im lặng, mỗi người theo đuổi một suy nghĩ khác nhau. Một lát sau, Tuấn lên tiếng:
-Hồng này! em mới sang chưa có việc làm hay là về đây ở rồi phụ việc cho anh. Công xá anh sẽ không để cho em thiệt đâu.
Hồng nhìn thẳng vào mắt Tuấn:
-ở với anh cũng được nhưng em muốn nhờ anh đóng khẩu cho em, ngoài ra anh mua cho em một quầy làm dịch vụ ở chợ Vòm. Em chỉ hợp với việc làm dịch vụ chứ không quen buôn bán. anh thấy có được không?
Tuấn thấy choáng, gặp phải cô Lài thứ hai rồi. Đóng khẩu hết một ngàn đô, mua quầy dịch vụ cũng không dưới tám ngàn đô, tổng cộng xấp xỉ gần mười ngàn đô. Anh làm sao có số tiền đó. Không khí nặng nề trùm lên bàn mặc dầu tiếng nhạc xung quanh đang ầm ĩ. Ngồi thêm một lúc, anh lên quầy trả tiền nước rồi quay lại bảo Hồng:
-Em cứ ngồi uống nước, anh có việc phải đi rồi.
Nhìn nét mặt rầu rĩ và bước chân đi như chạy của Tuấn, cô chủ quán cười khẽ: “ chắc lại bỏ của chạy lấy người rồi”. Hồng vẫn ngồi yên như không có chuyện gì xẩy ra. Cô cầm chiếc micrô và hát bài “999 đóa hoa hồng”.
…Mùa đông năm nay nghe mọi người nói lạnh hơn năm ngoái. Mà cũng lạnh thật, đắp hai chăn vẫn lạnh. Tuấn nghĩ hay là do lạnh ở trong lòng? Nếu có ai nằm bên cạnh chắc ấm áp hơn. Nằm nghĩ vẩn vơ, anh bỗng nhớ đến cô Thơ bán hàng gần phòng anh, chẳng hiểu vì sao mà dạo này lại rất quan tâm đến anh. Hôm qua còn chê anh mặc áo nhàu nát và ngỏ ýy muốn giặt là giúp. Anh không chú ýy đến cô vì hình thức của cô quá khiêm tốn: mũi gãy, da đen, người thẳng đuồn đuỗn như cá mắm. hình thức như thế nên sang Nga từ lâu, Thơ vẫn ở vậy một mình. Đêm đông lạnh lẽo, Tuấn bỗng nghĩ nhiều đến cô.
Hôm sau, Thơ sang phòng Tuấn chơi, anh nhờ cô giặt giúp mớ quần áo. cô mang về nhà và hẹn anh tối hôm sau sang lấy. Đúng hẹn, Tuấn sang nhà cô thì thấy một mâm cơm dọn sẵn. Thơ kéo tay anh ngồi xuống, giọng nài nỉ:
-Hôm nay em làm mấy món cải thiện, anh ăn với em cho vui.
Mâm cơm có đĩa tràng lợn trắng muốt, thịt bò xào lá tỏi tây và thịt lợn luộc được cắt rất khéo. Bên cạnh là hai chai bia Ban tích số ba và hai chiếc cốc đẹp đẽ. Mới nhìn anh đã thấy ngon mắt, ngon mũi rồi, chỉ còn phải ăn thử xem có ngon mồm nữa hay không thôi, thế là anh ngồi xuống cầm đũa. Suốt cả bữa ăn, Thơ luôn tay gắp cho anh với ánh mắt đầy trìu mến.
Ăn xong, mấy cốc bia làm anh buồn ngủ. Anh nằm lên giường định nghỉ một chút không ngờ ngủ quên lúc nào không biết. Anh tỉnh giấc khi thấy hai cánh tay của Thơ đang ôm chặt lấy anh . Bản năng đàn ông trong anh trỗi dậy, anh ôm lấy cô ghì chặt trong tiếng rên rỉ đam mê và tiếng thở gấp gáp không bình thường.
Sau cái đêm đáng nhớ ấy, Tuấn thường xuyên sang nhà Thơ ăn cơm và nhiều đêm ngủ lại ở đó. Hai người quấn quýyt lấy nhau như vợ chồng mới cưới. Một đêm ngủ lại, sau trận mây mưa, Thơ trở dậy mặc áo. Tuấn thấy cô mặc ngược chiếc áo ngủ cổ tròn. Anh nhắc khẽ:
-Em mặc áo đằng trước ra đằng sau rồi đấy.
Thơ đáp thản nhiên:
-Không sao anh ạ, em bây giờ thì đằng trước cũng như đằng sau thôi.
Tuấn cố nén tiếng thở dài. Thơ nói đúng. Càng nhìn càng thấy cô vừa gầy vừa xấu. Anh tự hỏi tại sao mình có thể ôm ấp một con người như bộ xương thế kia? Sự chán nản ùa vào trong lòng anh như một luồng gió độc. Anh lẳng lặng mặc quần áo rồi đi về nhà để mặc Thơ ngơ ngác không hiểu chuyện gì đã xẩy ra. Một tuần rồi hai tuần anh không sang nhà Thơ nữa mặc dầu đi làm vẫn gặp và hỏi chuyện nhau. Một chiều đang bán hàng , Thơ chạy sang bảo: “Tối nay anh sang em có việc rất quan trọng, thế nào cũng phải sang đấy. “
Sau bữa cơm tối, Tuấn sang nhà Thơ, anh đứng trước cửa hỏi:
- Có chuyện gì không em?
Rồi nhấp nhổm muốn về. Thơ kéo anh xuống ghế, cất giọng đều đều:
-Em muốn báo cho anh biết là em đã có mang. Nếu anh thích thì em sẽ đẻ rồi trả về cho vợ anh nuôi. Nếu anh không thích thì đưa cho em hai ngàn đô để em đi bệnh viện. Anh nên nhớ là hai ngàn đô không phải là khoản tiền lớn. Em phải cho dao kéo vào người, phải uống biết bao nhiêu là thuốc để lấy lại sức khỏe. Chắc anh đã nghe câu “ một lần sa bằng ba lần đẻ rồi chứ”. Anh suy nghĩ kỹ rồi trả lời sớm cho em.
Tuấn nặng nề bước ra ngoài, đi như kẻ mộng du.
Hai ngày sau, Tuấn gom góp được một số tiền, mang sang phòng Thơ. Để ví xuống ghế, anh đếm đi đếm lại số tiền rồi nói như phân trần:
-anh chỉ có 1500 đô thôi, phải vét mãi mới được ngần ấy.
Thơ cầm tiền giắt vào người rồi nói:
-Coi như anh còn nợ em 500, lúc nào có thì trả cũng được. Em phải bỏ tiền của mình ra bồi dưỡng vậy.
Tuấn không nói gì, đẩy cửa ra về. Lên giường nằm một lúc, Tuấn sực nhớ là mình bỏ quên cái ví ở nhà Thơ. Anh mệt mỏi quay lại, đẩy cửa bước vào đúng lúc cô đang thay quần áo. anh sửng sốt khi thấy một cái băng vệ sinh của phụ nữ dính nhiều vết đỏ đang vứt trên nền nhà. Như vậy Thơ không hề có thai mà chỉ cố tình bày chuyện để kiếm tiền. Thơ biết anh đã thấy cái băng vệ sinh nên hoảng sợ chạy trốn vào góc nhà. Mặt anh tối sầm lại, máu bốc lên đầu. Anh định nhảy vào tát cho cô mấy cái cho hả giận nhưng rồi kìm được, đành rằng cô ta lừa anh nhưng dù sao cũng đã một thời gian má ấp tay kề. đánh nhau cũng không hay ho gì. anh nhặt cái ví trên ghế rồi quay lưng bỏ đi với tâm trạng nặng nề. Cũng chẳng muốn về nhà nữa, anh ra đường bắt một chiếc tắc xi phóng đến chỗ thằng em họ. Thằng em thấy ông anh mặt mũi hầm hầm biết là có chuyện, nhấm nháy bảo vợ rang đĩa lạc, nướng con mực và mua ít bia. Chờ ông anh làm hết mấy vại, nó mới hỏi:
-Có chuyện gì phải không anh?
Tuấn kể một thôi, một hồi về mấy cô gái mới quen rồi nhăn nhó:
-Tao chẳng hiểu gì cả. tình thật, tình giả, tiền nong lẫn lộn, cứ rối như mớ bòng bong, chẳng biết nên làm thế nào?
Thằng em cười phá lên:
-Ông anh đừng buồn làm gì. để em nói cho mà nghe. Tình yêu ở đây cũng có hai loại, loại thứ nhất là loại người ta yêu nhau thật sự, rung động bằng trái tim, nhưng loại này thì hiếm. Ai may lắm mới gặp được. Loại thứ hai là loại tình yêu trao đổi, hai bên cùng có lợi. nó như một loại hàng hóa đặc biệt. Hàng tốt thì giá cao, hàng xấu thì giá thấp. Cũng như cô Lài, cô Hồng xinh đẹp thì giá phải cao. Cô Thơ và những cô khác xấu xí thì cũng như hàng chợ, giá rẻ thậm chí còn cho không. Anh cũng đừng hy vọng vào tình yêu ở bên này, về đến sân bay Nội bài là hết, ai đi đường nấy, thậm chí còn như không quen nhau nữa là khác. Người ta thường nói “ vợ Liên xô” vì như vậy đấy. Thôi anh quên các bà ấy đi, uống bia cho sướng.
Tuấn cầm cốc bia, uống một hơi cạn sạch. Hai anh em gật gù cho đến khi đĩa mực và đĩa lạc trơ cả đáy.
Đêm khuya, mọi người đã chìm sâu trong gấc ngủ. Tuấn vẫn trằn trọc không sao chợp mắt. anh trở dậy bật đèn bàn viết thư về nhà:
“ Em và các con!
Đã lâu không viết thư về nhà được vì bận quá. Anh đang cố làm ăn để tích cóp một số tiền tết này gửi về nhà. Mình sẽ mua cho hai con hai cái xe đạp mới. Mua cho em một cái xe máy đrim, nếu không mua được đrim Thái thì mua đrim Tàu. lúc nào rảnh rỗi, em sang nhà bác Hữu tập đi xe máy cho thành thạo. mấy mẹ con nhớ giữ gìn sức khỏe. Thương nhiều.
Anh Tuấn.”
Anh lên gường nhắm mắt lại. trong đầu bỗng hiện lên cánh đồng lúa mênh mông, xanh rì đang thời con gái. những chiếc nón trắng nhấp nhô của các cô gái đang nhổ cỏ trên đồng. Anh thấy cả nụ cười của vợ thấp thoáng trong chiếc nón và từ nơi nào đó xa xa vọng lên điệu chèo quen thuộc:
“ A là nón nghiêng, trên má em vui trên đồng. A là đồng em vui trên đồng làm cỏ bón phân i ì i….Kìa em nâng gót chân , miệng em ngân câu hát, kiện tướng hai mùa i ị ì ”.
Anh nhẩm theo điệu hát, thoáng nở nụ cười trong cơn mơ.

Kô hếu !
 
Sóng ngầm


Dũng trầm tư bước trên bãi cát, in lên đó những vết giày ngoằn ngoèo và sâu nông khác nhau. Biển vùng viễn đông nước Nga tuyệt đẹp, nước xanh ngăn ngắt. Những lớp sóng bạc đầu nô đùa đuổi nhau ra tít ngoài khơi, đón ánh mặt trời rồi hắt lên không trung những tia sáng lấp lánh. Những con chim hải âu dập dờn bay lượn. Mấy con tàu thả neo chờ lấy hàng bồng bềnh trên sóng. Tiếng nhạc dìu dặt từ boong tàu vọng ra nghe thật êm đềm.
Dũng cho tay vào túi, lấy bức thư mới nhận còn ghi rõ số máy phắch của bưu điện, trầm ngâm đọc lại:
Hà Nội ngày 7 tháng 7 năm 1992
Dũng em!
Chị đã gửi sang cảng Vlađivôxtốc bốn mươi kiện áo gió. Hàng về cảng vào ngày 11 tháng 7. Dạo này ở cảng xuất hiện mấy băng đầu gấu chuyên cướp hàng. Chuyến trước chị bị mất 5 kiện, thiệt hại nhiều lắm. Em bay xuống đó giúp thằng Hải một tay, nó không đủ sức đối phó. Chị tin vào đầu óc và tài nghệ của em. Đây là chuyến hàng rời cuối cùng gửi theo tàu, những lần sau hàng sẽ được cho vào côngtécnơ thì sẽ an toàn tuyệt đối. Mọi chi phí ăn ở, đi lại Hải sẽ lo cho em. Chúc em may mắn. Cảm ơn em.
Chị Bảo

Chị Bảo là chị ruột của thằng Hòa- bạn thân của Dũng. Ngày hai thằng còn học tiếng nga ở khoa dự bị để đi học nước ngoài, Dạ dày lúc nào cũng lép kẹp, bao giờ cũng nằm trong tình trạng thèm ăn. Bánh mì phát cho ăn buổi sáng, dù có cất kỹ vào rương khóa lại cũng không tồn tại cho đến sáng mai bởi vì không đứa nào cưỡng lại được sự thèm muốn khi mùi thơm của nó cứ tỏa ra thơm phức qua kẽ hở của cái rương gỗ. Cuối cùng cũng phải nhìn nhau rồi rút chìa khóa từ trong túi ra. Ước mơ lúc bấy giờ chẳng có gì cao sang cả, chỉ ước ao được ăn một bữa thật no. Không cá thịt, chỉ cơm rau cũng tốt. Dũng nhớ mãi cái ngày mà chị Bảo gửi cho mấy gói mì ăn liền hai tôm và dăm quả cà chua chín mọng. Căn phòng bỗng vui như ngày hội. Thằng rửa lại cái xoong đã mốc meo do lâu ngày không nấu. đứa vừa hát vừa thái cà chua. Một gói mì tôm được cho vào nồi với một nắm cà chua băm nhỏ và hai bát nước to tướng. Cho thêm ít muối và mấy hạt mì chính vào nồi nước có màu cà chua lẫn mấy sợi mì thấp thoáng, thế là vừa húp soàn soạt vừa học bài. Cái cảm giác ngon lành chạy từ cuống họng vào tận dạ dày và còn đọng mãi về sau. Rồi hai thằng sang nước ngoài học tập. Dù Dũng học ở thành phố Craxnôđa, Hòa học ở thành phố Kiép nhưng vẫn liên lạc thường xuyên, thỉnh thoảng lại gửi cho nhau cái phích đá hoặc mấy cái bàn là, đến khi về nước, mỗi thằng làm việc ở mỗi nơi nhưng tình cảm vẫn bền chặt như thủa còn hàn vi. Cách đây một năm, Dũng được cử đi nghiên cứu sinh ở Nga. Sang Mat xcơva, Anh vẫn thường xuyên liên hệ với Hòa. Nay nhận được thư của chị Bảo, anh vội thu xếp công việc rồi bay xuống cảng viễn đông nhận hàng giúp chị.
Buổi tối, sau bữa cơm, Hải đưa cho Dũng xem mấy tấm ảnh chụp một số khuôn mặt lạ hoắc rồi kể:
-Nhóm này toàn bộ là dân Hải phòng. Làm công nhân nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng. Liên xô tan rã, nhà máy không có việc làm, không ai chịu về Việt nam, ở lại buôn bán sinh sống. Buôn bán ngày càng khó khăn nên họ quay sang làm những việc phi pháp. Chúng tập hợp thành băng nhóm rồi tổ chức cướp của, cướp hàng của đồng bào mình. Thấy các chủ hàng vận chuyển hàng bằng đường biển, chúng tổ chức theo kiểu vừa trộm vừa cướp. Cách cướp cũng rất đơn giản: May sẵn những bao tải đựng hàng rồi viết tên của mình lên đó. Tàu cập bến, chúng cố tình xô đẩy cho thật lộn xộn. Khi cần cẩu đổ các bao hàng xuống đất, tất cả xông vào. Chúng dùng các bao tải đã chuẩn bị sẵn chụp vào các bao tải hàng vừa đổ xuống, cứ hai thằng một bao, chúng chuyển vào một cái xe tải đã chờ ở gần đó. Những người nhận hàng khi chen được vào thì chẳng còn thấy hàng của mình nữa. Cũng có người phát hiện ra hàng của mình đang bị “thay áo” đến đòi lại thì bị chúng dùng dao đe dọa nên đành bó tay. Cầm đầu băng nằy là Sung “chột”, một tay anh chị ở đất Hải Phòng. Có biệt danh là “sói biển”,Trạc 30 tuổi, luôn xông xáo nên trong một cuộc đánh nhau lúc còn ở nhà, Sung bị đâm mù một mắt phải đeo mắt giả. Phó của tên chột là một cô gái khoảng hai mươi tám tuổi tương đối xinh đẹp nhưng đầy tham vọng và tàn nhẫn, tên thật là Xuyến nhưng người ta gọi ả là Tám Bính.
-Thái độ của những người nhận hàng thế nào? họ chịu bó tay à?
-Nhiều người uất lắm chứ, mất của ai mà chả đau nhưng không dám phản ứng vì đại đa số là người từ Matxcơva xuống, thân cô thế cô, va chạm với chúng nó sợ không còn đường quay về.
Dũng nhìn vào đâu đó xa xăm. Miệng chợt mím lại. Hai tay nắm chặt, từ những ngón tay bật lên những tiếng kêu răng rắc.
***

Biển mờ mờ dứới đêm không trăng. Những vì sao bé nhỏ nhấp nháy mãi tít xa xa. Tiếng sóng biẻn vỗ ào ào vào bờ theo từng cơn gió. Những con tàu lầm lũi đi trong đêm thỉnh thoảng đánh thức mọi người bằng những hồi còi đơn lẻ.
Mấy đôi uyên ương dìu nhau đi trên bãi cát, đâu đó vang lên tiếng cười khúc khích, tiếng thỏ thẻ nũng nịu của các cô gái làm biển đêm thêm mơ mộng và hấp dẫn.
Cách bờ biển không xa lắm, ánh đèn điện vàng ệch chiếu ra đường cái từ một căn hộ ba buồng của một ngôi nhà năm tầng đã cũ. Nhìn qua cửa sổ, nhìn rõ các bức tường trong phòng được dán lên đủ các loại ảnh: Từ các ca si nhạc rốc, đến các chàng trai mặc quần áo da ngồi trên xe máy, và cả một dãy những tấm ảnh khỏa thân to đùng được cắt ra từ tạp chí Plâyboi.
Trong căn phòng lớn, nằm ngồi ngổn ngang một đám thanh niên, bên cạnh là mâm cỗ vừa ăn xong chưa dọn bừa bãi trên sàn nhà. Mấy chai rượu vốt ca đã trơ đáy nằm lăn lóc, đĩa mực nướng chỉ còn vài sợi con con. Xương gà ngổn ngang nằm trong chiếc chảo vàng đen loang lổ lẫn với chiếc đầu cá to còn nguyên hai con mắt mở thao láo.
Một gã có nước da đen thui nằm lim dim mắt mặc cho hai gã to như hộ pháp mồ hôi nhễ nhại tẩm quất. Nếu nhìn kỹ, mỗi khi hắn ngẩng đầu lên, trên khuôn mặt đen đúa kia chỉ có một con mắt chớp chớp. Con mắt còn lại chỉ nằm yên, bất động như là một vật trang trí. Hắn đang nhớ lại thời mới 18 tuổi, đang là một học sinh mới học hết phổ thông, hắn yêu một cô gái cùng xóm nhưng không được cô ta yêu lại. Mấy lần hắn tỏ tình nhưng đều bị từ chối. Hắn hận cô ta lắm vì vậy hắn cố tình hẹn cô ta ra chỗ vắng rồi giở trò đồi bại, định làm một việc đã rồi thì cô ta không từ chối được nữa. không may cho hắn, cô ta vùng chạy được và hô hoán ầm ĩ. Hắn sợ quá vội chạy một mạch trốn ra thành phố. Làm bốc vác ở chợ Sắt một thời gian, thấy hắn mạnh khỏe và liều lĩnh, bọn cho vay nặng lãi thường nhờ hắn đi đòi nợ. Một lần trong khi đòi nợ, hai bên xô xát. hắn đâm chết người nhưng cũng bị người ta đâm thủng một mắt. Ngay hôm đó hắn được đưa trốn đi một nơi khác. Sau một thời gian, không hiểu bằng cách nào mà người ta bố trí cho hắn được đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài. Tên thật của hắn là Tùng nhưng trong hồ sơ mang tên mới là Sung. Đến bây giờ bố mẹ và họ hàng nhà hắn vẫn tưởng là hắn bị mất tích.
Trên chiếc giường trong góc, một cô gái nằm rung chân, miệng phì phèo điếu thưốc Đunhin xanh, chốc chốc lại búng ngón tay cho tàn thuốc bay lả tả xuống tấm ga trải gường đã chuyển từ màu trắng sang màu cháo lòng. Cô ta cũng chẳng chú ý đến tấm ga đã mang trong mình mùi vị thật khó phân định: mùi hôi của mực khô, thuốc lá, mùi nồng nồng của bia rượu, mùi chua chua của mồ hôi...Cô đang nghĩ đến những đồng tiền vừa được chia ngày hôm trước.
Bỗng gã đàn ông đang nằm bật dậy, gọi với ra ngoài:
-Tất cả chúng mày vào đây.
Những cái đầu bù xù đang nằm nhỏm dậy. Mấy thằng chân cao chân thấp từ ngoài đi vào, vừa đi vừa khạc nhổ ầm ĩ. Chờ tất cả yên vị, gã đưa con mắt độc nhất nhìn khắp lượt rồi nghiêm giọng:
-Ngày kia tàu về. Đây là chuyến hàng rời cuối cùng cho nên đây cũng là thời cơ cuối cùng của ta. Phải chuẩn bị thật tốt để lấy được càng nhiều hàng càng tốt.không lấy được nhiều thì vài bữa nữa có mà treo mồm cả lũ. Cháo cũng không có mà húp. Thằng Bảy đâu?
-Dạ có em đây. Một thằng giơ cao cánh tay dài ngoẵng.
-Trong hai ngày nhóm mày phải may và viết tên cho hai mươi cái bao tải to. Bao càng to càng dễ lồng vào bao tải hàng và dễ vác lên xe. Còn thằng Kỳ! Chọn 10 đứa khỏe mạnh, cứ hai đứa một bao chuyển thật nhanh lên xe.
-Nếu bọn chủ hàng chống lại làm thế nào hả đại ca?
Con Xuyến bỗng lên tiếng hỏi.
Con mắt còn lành của thằng Sung nheo lại, xương quai hàm bạnh ra. Hắn rít qua kẽ răng:
-Đứa nào dám cản thì cho mỗi đứa một dao, mà lần này bọn mày chỉ được dùng loại dao nhỏ, lưỡi nhọn và sắc. Không ai được mang dao to. Mang loại to đi đường nguy hiểm lắm. Lỡ có bọn nào phím, công an tóm được thì có mà rũ tù. Làm nốt quả này rồi phải tìm kế khác. Bọn chủ hàng khôn ngoan ra rồi, cho hàng vào công téc nơ kẹp chì rồi vận chuyển thì bằng trói tay chân mình lại còn gì. Mẹ kiếp.
Hắn đứng dậy, khạc khạc mấy cái rồi phun một bãi đờm to tướng qua của sổ.
Ngoài kia biển vẫn reo hiền hòa. Những đợt sóng nhấp nhô vẫn vui đùa cùng bờ cát trắng và những đôi uyên ương vẫn đắm mình trong thế giớ của tình yêu.
***

Mặt trời đã treo lơ lửng trên đầu. Nắng tháng 7 xiên xuống làm cho cả bãi cát và nước biển cũng nóng lên. Chiếc tàu nặng nề chở đầy hàng đã cập bến chỉ chờ lệnh là dỡ hàng xuống bờ. Bãi biển lố nhố đông người, kẻ đứng người ngồi lộn xộn túm năm tụm ba thầm thì chỉ trỏ với nét mặt lo lắng. Nhiều ánh mắt nhìn theo những khuôn mặt dữ dằn đang đi lại trên bãi của một bọn không phải đến nhận hàng thấp thoáng dưới những lùm cây cách bờ khoảng vài trăm mét.
Dũng và Hải có mặt trong đám đông từ sáng sớm. Suốt đêm qua anh gần như không ngủ. Anh biết hôm nay sẽ là một ngày đầy khó khăn. Chuyện xung đột chắc chắn sẽ không tránh khỏi. Anh dặn Hải những điều cần thiết rồi ung dung chờ đợi.
Thời điểm quan trọng nhất đã đến. Hai người Nga trong bộ quần áo hải quan mang những tập hồ sơ từ trụ sở trên đồi xuống tàu. Tất cả ùa theo đông nghịt. Còi tàu hú lên liên hồi, cần cẩu lúc lắc và lô hàng đầu tiên được đổ xuống bãi. Hàng vừa chạm đất, tất cả mọi người cùng ào vào. Mạnh ai nấy tìm. Một sự hỗn độn diễn ra không thể tưởng tượng nổi. Xô đẩy, càu nhàu, gọi nhau í ới. Hải cầm chiếc bút dạ màu quan sát bao hàng nào có tên Trần Thị Bảo thì lập tức nhảy đến đánh dấu từ số 1 cho đến những số tiếp theo để khi kiểm hàng dễ dàng tìm ra số lượng hàng bị mất. Dũng đứng ngoài lặng im quan sát, anh thoáng thấy hai gã mặt mày bặm trợn đang hối hả lồng bao tải của chúng vào bao hàng số 3 của anh. Chỉ nhảy ba bước anh đã đứng kề bên và quát lớn:
-Để bao hàng lại.
Một thằng vẫn tiếp tục lồng bao tải, thằng khác ngẩng đầu lên hất hàm:
-Mày có điên không đấy? muốn lành lặn thì đi chỗ khác.
Dũng biết không thể nói với bọn này bằng lời. Mũi dày của anh nhằm vào cái cằm đang nghếch lên, tung vào đó một cú “Đảo sơn cước”. Thằng cha nằm vật sang một bên ôm lấy cổ họng kêu ằng ặc. Gã còn lại bỏ bao tải hàng đứng vụt dậy, thò tay rất nhanh rút ra từ sau lưng một con dao nhọn sáng loáng nhằm Dũng đâm tới. Anh khẽ lắc mình sang một bên tránh mũi dao, tay trái vuốt theo bàn tay cầm dao của gã rồi chuyển theo thế “cầm nã thủ”. Khi cánh tay cầm dao đã bị khóa chặt, Dũng hất mạnh tay, một tiếng “khục” rất gọn, tiếp theo là tiếng thét đau đớn. Con dao rơi xuống, gã ôm lấy cánh tay gãy, từ từ khụyu xuống cát.
Khung cảnh náo loạn, mọi người dạt cả ra ngoài. Tiếng la hét om sòm. Gã chột mắt dẫn một đám lâu la ào tới định vây lấy Dũng. Khi gã vừa nhảy qua mấy bao hàng cách Dũng khoảng hai mét thì anh cũng lao tới, cú đá bay “Thăng thiên độc cước” của anh trúng ngay mỏ ác của nó, chỉ nghe một tiếng hự khô khốc. Hắn ngã ngồi xuống cát, nhưng rồi lại vùng đứng dậy được ngay. Còn đứng chưa vững và chưa kịp định thần thì cú đá “Lưu vân” tiếp theo của Dũng đã in cả gót dày vào thái dương bên trái. Lần này gã chột nằm lăn ra bãi cát không dậy được nữa, từ khóe miệng một dòng máu đỏ tươi chảy ra. Tất cả bọn đàn em bỏ cả hàng hóa xông vào cứu gã chột. Bỗng có ai đó trong đám người nhận hàng hô lên:
-Đánh bỏ mẹ chúng nó đi anh em ơi!
Mọi người như chợt tỉnh, tất cả cùng xông vào đánh nhau với bọn đầu gấu. Kẻ đấm người đá. Ai vớ được cái gì thì dùng cái ấy làm vũ khí. Mấy chị lớn tuổi hè nhau bốc cát ném tới tấp vào mặt đối thủ. Bọn cướp ôm đầu chạy tán loạn. Mọi người vui mừng, reo hò ầm ĩ. Không khí trên bãi biển thay đổi hoàn toàn.
Dũng đứng lên một bao hàng, giơ tay ra hiệu cho mọi người im lặng rồi nói:
-Chúng nó đã chạy rồi nhưng mọi người cũng nên đề phòng kẻo bọn chúng quay lại trả thù. Còn bây giờ tôi đề nghị tất cả mọi người đứng lùi ra xa, cử một người đọc tên các bao hàng. Hàng của ai thì người ấy vào nhận. Như thế chúng ta sẽ không chen lấn nhau. Sẽ không mất hàng và không phải lo lắng gì cả.
Mọi người vỗ tay tán thưởng.
Mọi người lấy đủ số hàng của mình, Dũng kiểm tra lại số lượng hàng của chị Bảo rồi thuê xe chở tất cả vào nhà ga, đăng ký thuê một toa tàu hỏa chở hàng về Matxcơva vào ngày hôm sau. Xong mọi việc thì đã 10 giờ đêm. Thân thể mệt rã rời. Bụng đói chân run. Hai anh em mua hai chiếc bánh mì kẹp thịt ăn cho đỡ đói rồi phóng ra chỗ bán vé máy bay, mua 2 vé trong chuyến bay sớm nhất. Dũng biết phải rời nơi này càng sớm càng tốt. Cả Hải nữa, trước mắt cũng phải lánh đi một thời gian. Nếu ở lại chắc chắn chúng nó sẽ không để yên.
Hai anh em về đến nhà, đêm đã đi vào chiều sâu của sự yên tĩnh. Hải nằm vật ra giường nhưng miệng vẫn liến thoắng kể lại những pha gay cấn trong buổi nhận hàng. Nét mặt cậu ta rất phởn phơ. Bỗng Hải nhỏm dậy đề nghị:
- Anh dạy võ cho em nhé. Nhìn anh đánh chiều nay mà thèm.
- ừ, anh sẽ dạy cho. Ngay ngày mai anh sẽ chép cho em một số khẩu quyết. Sau khi em học thuộc, anh sẽ hướng dẫn theo từng chiêu thức cho dễ hiểu.
- Em không cần chờ ngay mai. Anh dạy ngay hôm nay đi,
Chiều lòng Hải, Dũng lấy giấy ghi nguệch ngoạc mấy dòng rồi vào buồng tắm. Dòng nước ấm áp ngấm vào cơ thể làm anh cảm thấy dễ chịu. Anh đứng nhắm mắt lại để cảm nhận thấy những vết bẩn trên người đang trôi đi và sự nhẹ nhàng, khoan khoái đang thấm dần vào trong cơ thể. Anh bỗng mỉm cười khi nghe tiếng của Hải đọc oang oang những khẩu quyết trong bài : “Hạng vương quyền”mà anh vừa ghi:
“...Tứ chỉ chiếu thiên
Long hổ mai tung
Bình sa lạc nhạn
Kim kê độc lập
Long sanh hổ tử
Hổ tàng long hiện
Phượng hoàng chuyển dực
Vinh quy bái tổ..”
Tắm thêm một lúc, Dũng mặc quần áo rồi gọi Hải ra tắm, không nghe tiếng trả lời, Anh vào phòng thì Hải đã ngủ từ lúc nào rồi. Miệng ngáy o o. Tay vẵn cầm tờ giấy ghi mấy dòng khẩu quyết. đúng là đang tuổi ăn, tuổi ngủ. Anh lắc đầu mỉm cười rồi lên gường nằm, chẳng hiểu vì sao suốt ngày căng thẳng, mệt nhọc đến thế mà nằm trằn trọc mãi vẫn không sao ngủ được. Tiếng đồng hồ tí tách chạy đều đều. Rồi những âm thanh của một ngày mới bắt đầu vọng tới. Anh đi ra cửa sổ, bình minh đã rạng phía chân trời. Những tia nắng đầu tiên như những tấm lụa vàng trải lên những dãy núi đồi uốn quanh hùng vĩ . Phía xa xa là màu xanh ngăn ngắt của biển. Những con sóng dịu êm nhẹ nhàng vỗ lên bờ cát. Anh bỗng ước ao một ngày nào đó anh được quay về đây như một người khách du lịch, không vướng bận chuyện gì để anh có thể được tự do ngụp lặn trong nước biển, được nằm dài trên bãi cát nghỉ ngơi, để chỉ đón những cơn sóng hiền hòa của biển mà không sợ phải đón những đợt sóng ngầm dữ dội của cuộc đời.
 
Truyện tình yêu hàng chợ phản ánh đúng sự thật về tình cảm con người ở bên này. Người VN tại Nga, nhất là ở trên chợ quan hệ tình cảm với nhau theo kiểu ko ràng buộc. Có những người sang đây lao động, buôn bán ở chợ dù ở nhà đã có gia đình rồi, nhưng một số vẫn cặp. Dường như đó là cái xu hướng khi đã sang Nga này. Họ cặp với nhau có thể là để nương tựa vào nhau để sống, có thể là để lợi dụng nhau về mặt vật chất, có thể chỉ là quan hệ thể xác. Nhưng có một điều đặc biệt là họ chấp nhận quá khứ của đối phương, nghĩa là dù người kia vẫn đang có vợ, chồng ở VN, nhưng ko quan tâm. Khi nào về VN thì mỗi người một ngả coi như ko quen biết. Nghĩ kể cũng hay, sống với một người mà mình ko có tình cảm chắc phải gồng mình lắm nhỉ.
Còn truyện Sóng Ngầm, tình huống lại xảy ra ở dưới Vladivostok nên em cũng ko rõ có xác thực ko. Nhưng đọc rất thú vị. Cái màn đánh võ em nghĩ chắc có hư cấu lên nhỉ, nghe cứ như phim xã hội đen đó. Dưới đó đúng là dân HP nhiều thật, nhưng chắc tác giả là người xứ Nghệ, ko biết rõ về HP nhiều nên xây dựng quá khứ của nhân vật anh chột gì đó đơn giản quá. Em thấy ai viết về đầu gấu HP cũng hầu như chỉ tập trung mỗi cái chợ Sắt nhỉ. Trong khi đó dân giang hồ HP lại ko ở đó. 8) :(
Truyện Đại Gia Sáu Ngón: dường như cái tình tiết câu chuyện này em đã đọc ở đâu đó rồi, tất nhiên cái đoạn gặp ở trên chợ tại Nga thì ko có. Nhưng tình tiết là một người đi đào đá rồi trở nên giàu có sau đó phá sản thì cũng nhiều tác giả viết truyện ngắn kiểu này nhắc đến. Khó hiểu nhất là tại sao anh đại gia sáu ngón đó đi chơi Sài Gòn gì những 2 tháng, sau đó về nhà mất hết nhà cửa. Chẳng lẽ giấy tờ nhà bác đó lại đứng tên mụ vợ chăng ...sao ko nhờ pháp luật can thiệp. Hihihi em thắc mắc ngớ ngẩn tí thôi, chứ em biết nếu thêm vào vụ pháp luật nữa thì chắc bác đại gia kia giờ này vẫn còn đang ra tòa kiện nhỉ.
Xin cảm ơn bác Cuvina đã tận tình gõ từng dòng để post cho anh em xem. Em cứ nghĩ là bác copy từ files Word. Bác cứ từ từ gõ và từ từ đăng nhé, anh em thông cảm cho bác. Một lần nữa em xin cảm ơn. Chắc thể loại truyện này mỗi mình em là hứng thú nhỉ, sao chẳng thấy ai vào ủng hộ bác cuvina cả.
 
MỘT THOÁNG NGUYỄN ĐÌNH LÂM
QUA TẬP TRUYỆN NGẮN “TÌNH YÊU HÀNG CHỢ”

TRẦN ĐĂNG KHOA

Tôi biết Nguyễn Đình Lâm cũng rất tình cờ. Mùa hè năm 2000, trong một chuyến công tác, tôi có dịp trở lại nước Nga sau mười năm xa cách. Lúc đó, nước Nga đã hoàn toàn đổi khác. Không còn cảnh bình lặng như thời tôi sống. Thời đó êm đềm. Cuộc sống vận hành theo một lịch trình có sẵn. Đều đặn và nhẩn nha. Nhưng trong sự thanh bình đến tẻ nhạt ấy, đã ẩn chứa bao điều bất ổn. Chỉ ra khỏi Thủ đô Matxcơva chừng 200 cây số, đời sống của người dân đã rất vất vả, cực nhọc. Có gia đình nông dân, hai mẹ con chỉ có một chiếc áo bành tô. Giờ nghỉ, những chuyến tầu điện đông nghịt. Người dân ngoại ô đổ về Thủ đô mua hàng hoá và lương thực, thực phẩm. Cửa hàng nào cũng đông đặc những người đứng xếp hàng. Chỉ mua nửa cân thịt cũng phải ba lần xếp hàng. Xếp hàng chọn và cân thịt. Xếp hàng trả tiền. Rồi lại xếp hàng lấy miếng thịt ra. Nhanh nhất cũng mất mấy tiếng đồng hồ. Lúc bấy giờ, tôi chỉ nghĩ đơn giản: Lòng kiên nhẫn của người Nga thật vĩ đại. Họ nghèo khổ cũng vì gánh trên vai cả một một sứ mệnh lịch sử. Là trụ cột của cả phe Xã hội chủ nghĩa. Họ phải cưu mang, giúp đỡ bao nhiêu quốc gia nghèo ở trên khắp hành tinh. Thế rồi M. Gorbachop lên ngôi với công cuộc cải tổ. Có tờ báo bình luận: Lê nin vĩ đại đã tái thế. Nhà văn nổi tiếng I. Bonđarep có một nhận định thật hào sảng và lãng mạn: “Cái bi kịch của nhà nước Xô viết là phải nuôi những cái bụng quá no, may sắm cho những người đã có quá nhiều quần áo đẹp và dạy những học giả đã ở một trình độ quá cao”. Nhưng rồi không lâu, cũng lại chính I. Bonđarep lo sợ: “Công việc cải tổ của chúng ta rồi đây sẽ ra sao? Tôi có cảm giác chúng ta đang ngồi trên một chiếc máy bay mà không biết nó đang bay về đâu. Trước mặt chúng ta, chẳng có một cái sân bay nào để có thể hạ cánh”. Rồi tiếp đến là những cuộc biểu tình. Xe tăng và đại bác đã sầm sập kéo về Quảng trường đỏ. Nhưng lúc bấy giờ vẫn chưa đổ máu. Ngày 29-12-12-1990, tôi rời nước Nga trở về Tổ Quốc, sau 7 năm theo học ở xứ người. Hôm sau là Tết. Trên đường phố đã phấp phới những tấm băng rôn chào mừng năm mới, rồi những cây thông treo bùng biêng những quả bóng thuỷ tinh óng ánh. Nhưng trong các cửa hàng đều trống rỗng. Đến cả bánh mì cũng trở nên khan hiếm. Không phải người già từng trải, ngay cả trẻ con bồng bột và xốc nổi cũng mang gương mặt lo âu. Những người lãng mạn nhất cũng không còn niềm tin để lạc quan nữa.
Bây giờ thì nước Nga đã đổi khác. Các cửa hàng mở cửa suốt ngày đêm. Hàng hoá ngập tràn nhưng giá lại quá đắt. Đối với người dân có đời sống đạm bạc thì đó là giá ở trên giời. Thành phố tưng bừng những tấm biển quảng cáo. Nhưng gương mặt người vẫn khắc khoải, bất an. Người ta không dám ra đường khi đã quá khuya. Nước Nga như ở thời Tư bản hoang dã. Hàng vạn người Việt học tập, lao động ở nước Nga phải tự bươn chải kiếm sống. Họ dạt về các thành phố lớn kiếm công ăn, việc làm. Trước những nhu cầu, đòi hỏi cấp bách như thế, một loạt công ty kinh tế của người Việt đã ra đời. Chủ đầu tư của các Công ty này hầu hết là các Tiến sĩ đã được đào tạo rất cơ bản ở Nga. Họ am tường pháp luật Nga, đời sống xã hội Nga, lại có tài tổ chức, tập hợp cưu mang những người Việt lang thang cơ nhỡ. Không ít công ty làm ăn phát đạt, đã trở thành thế tựa, là ngôi nhà chung ấm áp cho cộng đồng người Việt nơi đất khách quê người.
Trong chuyến công du ấy, tôi tò mò ghé thăm Trung tâm kinh tế Sông Hồng, một trong những công ty thành đạt của người Việt ta. Đây cũng là một cơ sở có công lớn trong việc giúp đỡ, cứu trợ những bà con có hoàn cảnh khó khăn ở trong nước. Rồi tôi gặp Nguyễn Đình Lâm. Anh từng tốt nghiệp Khoa Sử, Trường Đại học Cu ban- thành phố Cra xnôđa. Về nước, anh làm việc tại phòng hướng dẫn nghiệp vụ-Bảo tàng Hồ Chí Minh. Năm 1992, Nguyễn Đình Lâm quay trở lại Nga. Anh vừa làm việc vừa học tiếp, rồi bảo vệ luận án Tiến sĩ sử học tại Trường Đại học Phương Đông thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga. Năm 1996, công ty Sông Hồng đuợc thành lập, với hai Trung tâm Thương mại lớn và một ký túc xá, có khoảng 2500 người Việt Nam sinh sống và làm việc, Nguyễn Đình Lâm được mời về giữ chức tổng giám đốc cho đến ngày hôm nay. Ngoài công việc kinh doanh, anh là người sáng lập và là Chủ tịch Hội Võ thuật Việt Nam tại Liên bang Nga. Hội có 10 môn phái và gần 500 võ sư, võ sinh, giúp bà con rèn luyên sức khỏe, tự bảo vệ mình và tổ chức các cuộc biểu diễn, lấy tiền ủng hộ quỹ người nghèo ở trong nước. Anh còn là ủy viên ban chấp hành Hội người Việt , hội viên Hội văn học nghệ thuật Việt Nam tai LB Nga.
Với bao nhiêu chức danh như thế, nhưng Nguyễn Đình Lâm rất điềm đạm. Anh thường nghe nhiều hơn nói, lấy việc chăm chút bạn bè làm một thú vui. Bởi thế, tôi chẳng bao giờ nghĩ anh là một nhà văn. Vả lại, với bao nhiêu công việc, mà toàn những việc cụ thể, chi phối đến miếng cơm, manh áo và sự an toàn tính mạng cho hàng ngàn con người, lại ở trong một xã hội đầy bất trắc, làm sao còn tâm sức đâu mà đầu tư cho nghệ thuật, thơ văn.
Vậy mà rồi thi thoảng, tôi vẫn đọc bút ký, phóng sự, truyện ngắn của Nguyễn Đình Lâm, in trên tạp chí Đất nước, Tao đàn, xuất bản tại Nga, rồi báo Tiền phong, báo Lao động và nhiều báo chí khác ở trong nước. Hoá ra Nguyễn Đình Lâm vẫn lặng lẽ tích luỹ và âm thầm sáng tạo. Gần đây, anh đã cho ra đời tác phẩm đầu tay của mình. Đó là tập truyện ngắn khá dày dặn : “Con kiến tật nguyền”. Nói như nhà thơ, Phó Cục trưởng Cục Điện ảnh Nguyễn Thị Hồng Ngát, thì đó là một tập truyện hay, với cách viết khá tinh tế.
“Tình yêu hàng chợ” mà bạn đang có trong tay, là tập truyện ngắn thứ hai của Nguyễn Đình Lâm. Cũng như “Con kiến tật nguyền”, “Tình yêu hàng chợ” vẫn tiếp theo cái mạch truyện ấy. Tập sách hấp dẫn người đọc không phải bằng những cốt truyện ly kỳ, lắt léo, cũng không phải bằng những nhân vật phức tạp với những mối tình mang tính câu khách. Nguyễn Đình Lâm chinh phục chúng ta bằng một giọng điệu rủ rỉ, điềm đạm và thật thà. Anh không dựng truyện mà chỉ kể chuyện. Có cảm giác như anh thấy gì kể nấy. Những tình tiết, sự kiện trong cả tập sách này đều có thật, với địa chỉ và con người hoàn toàn có thật. Những ai ở Nga đều biết cả, nhưng qua ngòi bút Nguyễn Đình Lâm, câu chuyện không còn đơn thuần như những tín hiệu thông tin nữa. Nó gợi cho ta nhiều suy nghĩ về sự mong manh, đắng đót của những kiếp người. Để kiếm được đồng tiền trên đất khách đâu có dễ, nhiều khi phải đổi bằng nhân phẩm và cả tính mạng. Cuộc sống đâu có giản đơn. Bạn đọc có thể gặp trong tập sách này nhiều cảnh ngộ và số phận éo le. Từ những mối tình đổi trao chớp nhoáng, đúng là “tình yêu hàng chợ”, đến cảnh ngộ trớ trêu của những cặp vợ chồng cách biệt về lối sống, văn hoá. Rồi cái ghen mù quáng, đã nhẫn tâm biến một gã trí thức trở thành kẻ giết người. Rồi còn bao chuyện nữa. Những chuyện thường nhật của những kiếp người lang bạt. Hình như cuộc sống của người Việt nơi đất khách tự tìm đến Nguyễn Đình Lâm rồi qua ngòi bút anh mà ùa ra trang giấy với tất cả dáng vẻ nguyên khai như nó vẫn từng có. Đối với giới sáng tác, tập sách vừa là sản phẩm, vừa là những nguyên liệu còn tươi ròng để chúng ta tiếp tục khai thác và chế biến. Còn với độc giả thông thường, có thể xem đây như một tấm gương trung thành và chân thật, phản ánh nhiều góc độ của đời sống người Việt trên đất Nga. Tập sách thu hút sự chú ý của nhiều tấng lớp độc giả, có lẽ cũng vì thế. Đó là một đóng góp rất đáng ghi nhận của Nguyễn Đình Lâm.


Hà Nội 04-3-2005
T.Đ.K
 
Giải hạn.


Thanh mân mê tờ giấy bạc 100 đô la. Sờ ngón tay vào mấy cái vân trên tờ giấy rồi vẫy vẫy mấy cái. Tiếng giấy bạc kêu phần phật khiến hắn thấy trong lòng cực kỳ sảng khoái. Tờ 100 đô này là của ông khách từ thành phố xa lên. Sau khi trả các khoản tiền như đã thỏa thuận, ông ta đưa cho hắn 100$ tiền thưởng vì hắn đoán những chuyện về đời tư, về gia đình của ông không sai một chút nào. Hắn còn hướng dẫn cho ông cách giải hạn vào tháng tới để ông làm ăn phát đạt hơn. Trước khi về, ông còn nói là sẽ quay lại hậu tạ hắn khi mọi điều xui xẻo đã qua đi.
Tiếng chuông điện thoại reo vang, giọng một cô gái nhẹ nhàng:
- Alô, có phải nhà thầy Thanh đấy không ạ ?
- Tôi nghe đây-hắn cố lấy giọng đạo mạo trả lời
- Em là Phương. Nhà em có nhiều chuyện không may liên tục xảy ra. Em muốn nhờ thầy xem hộ cho em nguyên nhân vì đâu và cách giải hạn như thế nào.
- Thế bây giờ em đang làm việc ở đâu ?
- Em đang buôn bán ở phòng 218 chợ Sông Thao, đại lộ Đmi-tơ-rốp
- Thế thì 2 giờ chiều mai tôi chờ em ở nhà.
Đặt máy xuống, hắn xoa xoa tay, lại có một con gà béo đến nộp mạng cho mình rồi. Hắn gọi với sang phòng bên cạnh:
- Tấn ơi, sang đây có việc.
Một thanh niên có mái tóc dài chấm gáy, đưa 2 ngón tay đẩy đẩy vào chiếc kính trên mũi trông có vẻ trí thức bước vào.
- Chú sang ngay chợ Sông Thao, điều tra xem cô Phương bán hàng ở phòng 218 là người thế nào. Nhớ tìm hiểu kỹ gia cảnh, cuộc sống vợ chồng, sở thích riêng của mỗi người, con cái thế nào, có mấy trai, mấy gái và cả quê quán nữa nhé. Phải mang thông tin về cho anh trước 12 giờ trưa mai.
Tấn nhận lệnh quay đi, hắn nhìn theo gật gù vẻ hài lòng lắm. Thằng này được việc, nhiệt tình chu đáo, mau mồm mau miệng, nói chuyện rất có duyên. Khi biết khách đứng chờ sốt ruột thì nó liến láu kể những chuyện bịa như thật về tài năng của thầy để sau đó sự tin tưởng của mọi người đối với thầy tăng lên gấp bội. Chỉ phải tội hơi tò mò, tọc mạch, cái gì cũng muốn biết, cái gì cũng hỏi.
Hắn lại rút ví tiền ra đếm. Hôm nay đầu tháng thế mà có lộc. Mân mê tờ bạc, hắn nhẩm tính ra tiền Việt Nam, chỗ tiền này mua được gần một tấn thóc chứ không ít. Hắn nhớ ngày còn làm ở nhà máy cơ khí của tỉnh, chao ôi quần quật suốt ngày với máy móc, quần áo lúc nào cũng lấm lem dầu mỡ mà có lúc nào được ăn no đâu. Nhiều khi đi làm về, hắn vội vàng đạp xe rất nhanh qua hàng phở gần nhà máy để chạy trốn mùi thơm quyến rũ của nó. Có lúc hắn ước ao gặp một ông tiên cho ba điều ước thì điều đầu tiên sẽ là được ăn một bữa phở no nê. Thế rồi vận may cũng mỉm cười với hắn khi hắn làm quen và cưới một cô gái bán cửa hàng lương thực. Hắn biết hắn và cô ta không được xứng đôi cho lắm. Nếu bỏ quần áo lao động, tắm rửa sạch sẽ, chải tóc rẽ ngôi đàng hoàng thì trông hắn cũng khá đẹp trai. Còn Xuân-vợ của hắn thì thật là sự nhạo báng của tạo hóa. Không hiểu khi ông bà mụ vắt nặn ra cô vừa làm việc vừa ngủ gật hay sao mà tất cả mọị thứ đều vô lý. Chiều cao rất khiêm tốn, chỉ có 1,45m, chân ngắn hơn lưng với hai cái bắp chân to, tròn đầy thịt. Khuôn mặt thì chiều ngang dài hơn chiều dọc. Hai lỗ mũi tẹt dí, nhìn như hai miếng thịt thừa gác trên cái mồm rộng qua cỡ mà lúc nào cũng toe toét cười. Nhìn khuôn mặt với nước da xanh xám lại càng thê thảm hơn khi lúc nào cũng có trên vài chục cái mụn trứng cá. Cái đã nặn rồi thì đen, cái chưa kịp nặn thì đỏ. Mà cô này lại có sở thích nặn trứng cá mới chết chứ. Lúc nào cũng có cái gương con kè kè bên người, hễ rỗi việc lại đem gương ra bóp bóp, nặn nặn. Mỗi khi cô ta xuống nhà máy thăm hắn, lúc chào mọi người ra về, ai cũng nhìn theo ái ngại cho cái hình thức quá khiêm tốn của cô và đều muốn bày tỏ sự cảm thông sâu sắc đối với hắn. Tuy nhiên trong cái không may lại có cái may như người ta thường kể chuyện “Tái ông thất mã”. Vợ xấu nhưng gạo trong nhà lúc nào cũng đầy. Đến bữa ăn lại có chai bia “vạn lực” của Trung Quốc để uống. Cách một hai tháng hắn lại được vợ mua cho một bộ quần áo mới. Rồi không hiểu vợ hắn chạy chọt thế nào mà hắn chạy được một suất đi xuất khẩu lao động ở Nga. Cái ngày bước lên máy bay cũng là ngày cuộc đời hắn bước sang một trang mới. Tất cả sự nghèo khó, nhọc nhằn vất vả và cả bà vợ xấu xí của hắn nữa cũng đi vào sự lãng quên. Thành phố nơi hắn làm việc nằm ở niền nam nước Nga, ở đó có rất nhiều cá chép vừa béo vừa rẻ. Lại có loại gạo vừa dẻo vừa thơm. Nhưng điều làm hắn thích nhất là trong xí nghiệp có gần một ngàn công nhân nữ thì chỉ có hơn một trăm công nhân nam. Bởi vậy các chàng trai được quý trọng lắm, Các cô cũng buồn vì xa bố mẹ, xa quê hương vì thế ai cũng muốn có bạn, nhất là có bạn trai. chẳng thế mà người ta gọi bọn hắn là “mì chính cánh.” Tất cả bọn con trai dù xấu đẹp, cao thấp, có tài hoặc bất tài gì cũng có bạn gái, còn các cô gái thì chỉ có những cô hình thức tương đối khá mới mong tim được bạn trai. Riêng hắn chọn được một cô xinh xắn, vừa biết chiều chuộng lại biết nắu ăn. vì thế chỉ một năm sau là hắn quên hẳn cô Xuân xấu xí ở nhà. Rồi một sự tình cờ đã thay đỏi cả cuộc sống sau này của hắn. đó là một lần hắn vào chơi nhà người quen ở trong trường đại học gần đó. Hắn thấy cuốn sách “Tướng tay sơ bộ” nằm trên bàn. Tò mò đọc một lúc, hắn thấy hay hay, vốn thông minh, hắn nhớ được các đường quan trọng trong lòng bàn tay. Đường sống kéo từ đâu đến đâu, bị gãy như thế nào là ốm nặng, như thế nào là ốm nhẹ. Rồi cả những đặc điểm cơ bản của các đường học hành, đường tình duyên nữa. Chỉ sau một tháng kể từ ngày hắn vào trường về, hắn nổi tiếng là người biết xem tướng. Phòng ở của hắn không đêm nào là không có người đến xem tiền vận, hậu vận. Tiền vận thì hắn nói ít hoặc lờ đi, hậu vận thì hắn nói nhiều: ai sau này cũng giàu có, ai cũng may mắn. Hắn biết là hắn nói ba hoa nhưng sau này, ở tương lai có ai kiểm chứng được đâu mà sợ. Hắn rất thích xem tay các cô gái, nhất là các cô xinh xinh. Hắn thường lợi dụng lúc cầm tay xem tướng, xoa xoa lên phía trên vai, trên cổ. Nếu cô nào phản ứng thì hắn dừng tay. Cô nào ngồi im thì hắn làm tới cho đến “z”.
Cuộc đời hắn sang trang kể từ khi Liên xô tan rã, đất nước bước sang cơ chế thị trường. Nhiều nhà máy phải đóng cửa vì không có tiền chi phí. Hàng hóa chất lượng kém không có khách mua. Trong khi đó hàng ngoại đổ vào như nước. Nhà máy nơi hắn làm việc cũng chịu chung số phận. Mọi người phải tự tìm cách nuôi sống bản thân. Hắn cũng theo đoàn người dắt díu nhau lên Matxcơva kiếm sống. “ Matxcơva làm ăn dễ hơn các nơi khác”, hắn nhận định như vậy sau khi đi khảo sát một vòng. Nhưng rồi hắn thấy mình không hợp với một việc gì: Làm vàng hay buôn xanh thì nguy hiểm vì hắn vốn không phải là người gan dạ. Buôn bán trong các trung tâm thương mại, nói theo dân dã là các chợ Việt nam thì hắn không biết buôn bán, chắc chắn là sẽ đi hết cả mấy đồng vốn liếng mà hắn phải chắt chiu trong mấy năm mới có được. Có lúc hắn định về Việt nam nhưng nghĩ đến cảnh phải hàng ngày phải giáp mặt với mụ vợ vừa già vừa xấu hắn lại hoảng sợ, không dám nghĩ đến chuyện về nữa.Vả lại hắn đã quen với cuộc sống luôn luôn có các cô gái xinh đẹp, khả ái bên cạnh rồi. Sau mấy đêm thức trắng suy nghĩ, hắn thắy chỉ có một nghề phù hợp nhất với hắn, đó là nghề bói toán. Nghề này không phải bỏ vốn mà lãi thì không thể tính hết được. Vào cầu thì chỉ cần một vài năm là lên ông nọ bà kia ngay. Quyết định thế rồi nhưng hắn không hành nghề vội. Hắn tìm thêm một số sách viết về tử vi, phong thủy...đọc thêm. Ngoài ra hắn còn tập viết một số chữ Hán nhưng cũng chỉ được mươi lăm chữ. Mấy tháng sau, trên các tờ báo lá cải phát hành tại Matxcơva có một tít quảng cáo rất ấn tượng: “Nếu các bạn muốn biết tiền vận hậu vận của mình, muốn tìm ngày lành tháng tốt, thiên thời địa lợi nhân hòa giúp cho việc làm nhà, kết hôn, kinh doanh, tang hiếu được mỹ mãn, muốn giải hạn cho sao xấu trở thành sao tốt hãy đến tìm thầy Lê Thanh, một cây đa, cây đề trong làng bói toán. liên hệ theo số điện thoại...”
Quảng cáo quả là có tác dụng. Một ông chủ chợ nhờ hắn lập cho một cái điện thờ ở ngoài sân, nhờ cái điện thờ đó mà nhiều người biết đến hắn. Nhờ hắn xem tướng số. Để có thêm uy tín, hắn bao giờ cũng hẹn người ta vào ngày hôm sau để sau đó thuê hai thanh niên hoạt bát đến địa chỉ của thân chủ gặp những người xung quanh để tìm hiểu về họ rồi cung cấp thông tin cho hắn. Nhờ thế mà khắp Mat xcơva đồn đại là hắn xem bói như thần, chuyện vợ chồng sinh con một bề, chuyện trong gia đình vừa có người chết hay có người đang nằm bệnh viện, thậm chí vợ chồng bỏ nhau...cũng được hắn kể ra vanh vách. Người nghe cứ mắt chữ a, mồm chữ o nuốt lấy từng lời. Có người nghe xong còn vái hắn ba cái như vái thánh sống vậy.
Một đồn mười, mười đồn trăm, khách càng ngày càng đông. Có người phải xếp hàng những năm sáu ngày mới đến lượt mình. Hai thằng giúp việc-thằng Tấn, thằng Long lúc nào cũng chạy ngược chạy xuôi tất bật, được cái chúng nó cũng chịu khó nên hắn chưa bị hố bao giờ.
Hắn lại gật gù vuốt ve tờ đôla. Với cái đà này thì chỉ vài năm nữa, hắn sẽ mua được một mảnh đất ở Hà nội, xây cái nhà ba tầng thật hoành tráng. Bỏ cái con vợ vừa già vừa xấu vừa bước sang thời kỳ mãn kinh ấy đi. Cái con bồ đã ở với hắn mấy năm nay đã gần bốn mươi cũng bỏ nốt, cưới một em xinh xắn, tuổi chỉ nằm ở cuối đít hai hoặc đầu ba là cùng. Hắn rung chân khoái trá, ngả lưng xuống ghế rồi lim dim đôi mắt nghĩ về tương lai.
Tiếng chuông cửa vang lên. Hắn sửa lại quần áo cho ngay ngắn rồi ra mở cửa.Trước cửa là một cô gái xinh xắn hỏi hắn với giọng rụt rè:
-Làm ơn cho gặp thầy Thanh!
-Tôi đây, mời cô vào.
Hắn đón khách với tác phong rất tự tin, tự tin quá đi chứ bởi vì trong tay hắn đã có đầy đủ các thông số của người khách tên là Phương mà thằng Tấn vừa đưa cho lúc trưa.
Cô nhẹ nhàng chào rồi ngồi xưống ghế theo cái giơ tay rất điệu nghệ của hắn. Chờ cô gái uống một ngụm nước, hắn bất ngờ vào đề:
-Trong gia đình cô vừa có chuyện không may xẩy ra phải không? như bị ốm nặng phải đi bệnh viên hoặc bị tai nạn xe cộ chẳng hạn. Nhìn khí sắc trên mặt của cô, tôi biết chắc chắn có chuyện gì đấy.
Cô gái thay đổi hẳn sắc mặt, bàn tay cầm chén nước run run:
-Thầy đúng là bậc kỳ tài. Chẳng giấu gì thầy, chồng em vừa bị tai nạn. Một cái xe đâm thẳng vào xe chồng em với tốc độ khủng khiếp. Xe chồng em bị văng ra xa, trán đập vào vô lăng làm anh ấy ngất đi , bây giờ vẫn đang nằm trong bệnh viện.
-Cô cho tôi biết ngày sinh tháng đẻ?
Nghe cô gáí trả lời xong. Hắn lẩm nhẩm bấm bấm trên đầu ngón tay , chốc chốc lại liếc nhìn bộ mặt đang căng thẳng chờ đợi của cô gái . Lấy vẻ mặt nghiêm trọng. Hắn nói:
. Mỗi người, mỗi tuổi có một ngôi sao chiếu mệnh khác nhau. Có sao tốt có sao xấu. Năm nay cô 37 tuổi, sao kế đô chiếu mệnh, chắc cô cũng biết, sao kế đô là sao chủ của sự hung dữ, ám muội, thị phi, buồn rầu. Tôi chắc ngoài chuyện chồng cô bị tai nạn, cô còn gặp nhiều chuyện không may nữa như làm ăn thua lỗ, bị thiên hạ bịa đặt những chuyện không có. Cô thấy có đúng không?
-Đúng là nhà em dạo này liên tục gặp những chuyện không may như thầy nói. Đúng là “phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí”. Bây giờ phải làm thế nào hả thầy?
Hắn dẫn cô đi sang phòng bên cạnh, giới thiệu nơi mà hắn thường làm lễ giải hạn cho mọi ngươi. Căn phòng này được bố trí đầy vẻ thần bí. Có hai bàn thờ lớn với những bát hương to nhỏ khác nhau. Trên tường dày đặc chữ nho đủ các cỡ chữ mà không hiểu là viết những gì. Hắn dẫn cô quay lại phòng khách rồi bảo:
-Từ giờ cho đến hêt năm, đang có nhiều điều không may chờ cô. Muốn tránh những điều không may thì cô phải giải hạn. Tự cô sẽ không làm được điều đó. Tôi sẽ giải hạn giúp cô.
Hắn bấm ngón tay rồi nói tiếp:
-cô chuẩn bị những lễ vật mà tôi đã ghi ở giấy, đến đây vào ngày rằm tháng này để giải hạn.
Cô gái đặt lên bàn một chai rượu Hennessy và một hộp bánh quy loại hảo hạng. Ngoài ra còn có thêm một cái phong bì trong đó có tờ 100 đôla mỹ. Thầy Thanh biết rằng cái phong bì kia chỉ được đưa ra khi thân chủ hài lòng với thầy. Cô gái nhẹ nhàng cảm ơn rồi đi ra cửa , không quên hẹn sẽ gặp lại thầy vào ngày rằm tới.
Thời gian thấm thoắt qua nhanh, ngày rằm đã đến. Phương đến đúng hẹn, mang theo cả một xe ô tô lễ vật. Trên mâm xôi đầy ự là một con gà nằm nghễu nghện, ngẩng cao đầu với một bông hoa hồng đỏ rực ngậm ở mỏ. Một bó cúc vàng được bó rất cầu kỳ. Cạnh mâm xôi là những xấp quần áo bằng giấy dành cho âm binh và nhiều loại vàng mã. Hai chai rượu vốt ca mang nhãn hiệu Standard loại lớn nhất cũng được bê vào. Thanh bày tất cả lễ vật vào phòng, khoác lên người chiếc áo thụng dài có thêu mấy con phượng, con rồng trông rất lạ mắt. Thắp 21 ngọn nến, đốt mấy nén hương, hướng về phía tây, hắn huơ đi huơ lại rồi đọc những câu bằng tiếng Hán dài dằng dặc mà chắc chắn ngay bản thân hắn cũng không hiểu hắn đang đọc cái gì. Trong khói hương mù mịt, những tiếng thì thầm lúc to lúc nhỏ làm cho người ta tưởng mình đang ở một chỗ nào đấy xa xăm chứ không phải nơi chốn trần gian.
Lễ bái xong, hắn đốt quần áo, vàng mã. cho tro vào một cái túi nhỏ, đưa túi cho Phương kèm thêm một cái gương bát giác, hắn căn dặn:
-Bây giờ cô mang túi tro này ra sông Mátxcơva đổ xưống sông cho mọi thứ được mát mẻ. Còn cái gương, cô mang về treo trước cửa phòng bán hàng, cái gương này sẽ đuổi hết tà ma đang lởn vởn trước phòng cô, việc làm ăn sẽ thuận buồm xuôi gió.
Phương ra về thấy lòng nhẹ nhàng và niềm vui phơi phới. Chắc từ nay mọi việc đen đủi sẽ không còn nữa. chân bước lâng lâng lên cầu thang mà không thấy mệt như mọi khi, cô nhờ người quen treo cái gương bát giác lên cửa phòng bán hàng. Sắp xếp lại hàng hóa, cô chuẩn bị cho một ngày bán hàng mới-ngày thứ bảy và chủ nhật. Không phải chỉ có mình cô mà tất cả những người đang bán hàng đều trông chờ vào hai ngày đó. hai ngày này có lượng khách đông khách nhất trong tuần.
***
Sáng thứ bảy, Lý là người đến sớm nhất chợ. Anh bán hàng ở phòng 219 đối diện với phòng 218 của Phương. Do cao và gầy nên mọi người gọi anh là Lý “khọm”. Qua cửa sổ, anh vươn cái cổ dài ngoẵng háo hức nhìn từng đoàn, từng tốp khách đi vào chợ. “ Hôm nay chắc được gặt hái một bữa ra trò để bù lại cho những ngày không đủ chi phí. Cuối tuần cũng phải về sớm một tý để qua cửa hàng mua con ngan tươi. Ngan luộc mà chấm với xì dầu pha tỏi, thêm một ít lá húng chó và tía tô thì ngon phải biết”. Anh nuốt nước bọt rồi quay sang vuốt vuốt mấy cái quần bò treo rất đẹp trên tường, phe phẩy cái chổi lông vào mấy bộ váy trên cái Ma-nơ-canh đứng làm dáng ở cửa. Một giờ, hai giờ rồi ba giờ trôi qua vẫn không có một vị khách nào đến mua hàng. Anh nhìn sang xung quanh, khách hàng đi rầm rập, mọi người bán hàng tíu tít. Tại sao họ không mua của mình? Hàng của mìmh cũng đẹp đấy chứ! Sáng nay ra ngõ gặp ai nhỉ? Chắc là gặp gái rồi. Nhìn quanh quất anh thấy có cái gì đó khác lạ, anh giật mình khi thấy cái gương bát giác treo trên phòng 218 đang chiếu vào phòng anh. “Thôi chết rồi, hèn gì mà không ai vào mua, cái gương bên phòng đối diện đã đuổi ma quỷ của nhà nó sang nhà mình rồi. Sao mà nó đểu thế không biết, nhìn mặt cũng không đến nỗi thế mà bụng dạ nham hiểm quá” Càng nghĩ càng tức, cái gương cứ láp lánh như trêu chọc. Anh nhặt cái gậy dùng treo hàng vung lên, “choang” tiếng vỡ ghê người, cái gương bát gác rơi xuống nền gạch vỡ tan tành. Tiếng gương vỡ làm mọi người giật mình, nhất là Phương. Từ sáng đến giờ cô cũng chưa mở hàng. Chỉ có vài người khách dừng lại, nhìn hàng của cô một cách hờ hững rồi bỏ đi mà không nói một câu. Niềm hứng khởi trong cô dần dần mất đi giành chỗ cho sự bực dọc ngày một tăng dần. “có lẽ phải đốt vía”, cô đang nhìn quanh quất tìm giấy và bật lửa thì tiếng gương vỡ và mấy mảnh gương bay vào phòng làm cô hoảng hốt. Cô vội nhìn ra gặp ngay ánh mắt giận dữ của ông hàng xóm đối diện. Nỗi tức giận trào lên, cô hét to lạc cả giọng:
-Ông điên rồi hả? sao dám đập gương của tôi?
-Mày điên thì có, dám treo gương ám phòng của tao.
Hai bên to tiếng. Phương lao vào Lý, tiếp đó là tiếng áo rách, những cái cúc áo bay tung tóe. Lý vung mạnh tay, cả người Phương bay vào bức vách đối diện. Một tiếng kêu đau đớn, Phương lồm cồm ngồi dậy, hai tay ôm lấy đầu. Mấy giọt máu chảy qua kẽ ngón tay. Một cái đinh đóng trên vách đã đâm thẳng vào đầu cô. có tiếng chân chạy rầm rập, tiếng còi xe cứu thương inh ỏi. Khi tỉnh dậy, Phương thấy mình đã nằm trong bệnh viện. đầu nhức như búa bổ. Cô nhận ra chồng cô đứng bên cạnh với cái băng còn trên trán và nước da xanh mét. Mấy chị em đứng lố nhố bên cạnh. Thằng em Phương nhăn nhó:
-Để em cho thằng thầy bói một trận, giải hạn cái gì mà hạn lại nặng thêm, đúng là phường lừa đảo, tiền mất tật mang.
Phương cố nén tiếng thở dài.
***
...Mấy hôm nay thầy Thanh ruột nóng như lửa đốt. Các nguồn tin đưa về là cả cô Phương lẫn ông khách thành phố xa đều gặp chuyện không may sau khi giải hạn. không biết có phải vì lý do đấy không mà khách đến thầy ngày càng ít đi. Ngày trước trong nhà chuông đIện thoại reo liên tục, bây giờ nằm ngủ im lìm, thỉnh thoảng có cựa mình thì cũng chỉ là mấy người quen gọi hỏi mấy chuyện vớ vẩn. Quyển sổ cho khách đăng ký chả thêm được dòng nào. Hắn lo lắm, cứ đà này thì không đủ tiền để trả tiền nhà, tiền ăn chứ tính gì chuyện mua đất làm nhà. Có tiếng gõ cửa, thằng Tấn bước vào:
-Em xin phép anh, từ ngày mai em nghỉ việc, chúc anh ở lại mạnh khỏe.
-Chú định đi đâu?
-Em định ra chợ vòm giao hàng giúp cho mấy đứa bạn.
Tấn đi rồi, Thanh thấy sự cô đơn tràn ngập căn phòng. Không hiểu ngôi sao xấu nào đang chiếu mà gặp toàn những điều không may. Khách hàng không có, bạn bè lần lượt ra đi, thằng Long vừa đi tuần trước, nay thằng Tấn cũng ra đi. Hắn đi đi lại lại, vắt tay lên trán mà vẫn không nghĩ ra cách gì để giải cái hạn đang bám lấy hắn. hắn buồn khi nhớ rằng hắn đã giải hạn cho hàng trăm người thế mà chẳng có ai giải hạn cho hắn. Hắn bỗng thấy đói bụng. Đã ba giờ chiều mà từ sáng đến giờ chưa có gì vào bụng. Hắn gọi sang phòng bên:
-Ngọc ơi, có gì ăn chưa, anh đói lắm rồi.
Không có tiếng trả lời, hắn gọi lại vẫn thấy im lìm. Hắn đi sang phòng bên không thấy có ai “Cô này đi đâu nhỉ? Mấy năm nay ở với nhau lúc nào cũng chu đáo lắm kia mà”. Bỗng hắn thấy dưới cái cốc uống nước có một mẩu giấy. Tay run run, hắn đọc nhanh:
“Em xin lỗi vì đã không gặp anh trước khi ra đi, ở lâu với anh, em mới thấy bọn mình nhiều cái không hợp nhau, không hợp về cách sống, về cách làm ăn, cả về tình yêu nữa. vậy cách tốt nhất là chia tay, cầu mong cho anh mạnh khỏe và may mắn”. ký tên Ngọc.
Hán thấy đất như sụp đưới chân, đầu óc quay cuồng, cố lần vào phòng ngủ rồi nằm vật xuống gường. Đêm đó hắn sốt cao đến 40 độ.
Một tháng sau, hắn lang thang đi vào một trung tâm thương mại việt nam cho đỡ buồn. Hắn muốn được nghe những tiếng nói thân quen và thèm ăn một bát bún mọc. trong khi chờ nhà hàng chuẩn bị, hắn mua một tờ báo lá cải đọc để giết thì giờ. Bỗng hắn chú ý đến một ô quảng cáo: “ Hoàn Vũ- nơi các bạn có thể biết tiền vận, hậu vận, tìm ngày lành tháng tốt, thiên thời địa lợi nhân hòa để gúp cho việc kết hôn, kinh doanh...được thuận lợi, muốn giải hạn cho sao xấu trở thành sao tốt, hãy gọi theo só đIện thoại...”
Hắn cảm thấy nội dung quảng cáo và số điện thoại quen quen, nghĩ mãi chưa ra vì đâu lại quen mà ông Hoàn vũ nghe cũng là lạ. Người hầu bàn thấy hắn chăm chú xem quảng cáo về bói toán, vui vẻ nói chen vào:
-Ông thầy này nổi tiếng lắm, biết rõ chuyện người ta như người trong nhà vậy. Nghe nói giải hạn cũng hay lắm. người ta phải gọi điện đến xếp hàng trước hàng mấy ngay cơ đấy. Người xem cứ nườm nượp ấy chứ.
Hắn lại quầy bar gọi nhờ điện thoại, linh cảm của hắn không nhầm, đầu dây là tiếng tiếng thằng Tấn:
-Anh cứ đến chỗ tôi thì sẽ biết hết tiền vận, hậu vận. Nếu anh đang gặp hạn thì tôi sẽ giải hạn gúp anh. Anh hiện đang làm gì? ở đâu? Mà bao giờ thì anh đến?
Hắn bỏ ống nghe xuống bàn, thở dài rồi quay đi, bỏ mặc cả bát bún mọc đang tỏa mùi thơm đầy hấp dẫn.
 
Ngõ tối
Hòa háo hức nhìn thành phố đêm qua cửa kính xe, thành phố mà anh từng nghe, từng quý mến nhưng chưa được đến bao giờ. Anh vừa bay từ Angiêri về Mátxcơva sau 3 năm làm chuyên gia ở đó. Lẽ ra anh qua Pháp rồi về Việt Nam, nhưng nể lời mời của mấy thằng bạn thân ở Mátxcơva, anh định ghé thăm mấy ngày trước khi về nhà.
Đường phố Mátxcơva đẹp hơn ở Angiêri nhiều lắm, rộng rãi và có nhiều loại xe. Có xe Mersedes, Audi nhập ngoại đời mới bóng loáng, lại có những chiếc xe Nga cũ kỹ như Lada, Vônga chen vào phun khói mù mịt trông mới khập khiễng làm sao. Những hàng đèn đường nối nhau sáng choang chạy mãi không hết. Đường phố sáng đến nỗi trăng rằm đêm 14 cũng phải khiêm tốn đứng một góc ở cuối chân trời. Gió mùa hè thổi vào mặt anh mát rượi. Anh hít thở một hơi thật sâu và cảm thấy thoải mái vô cùng.
Xe dừng lại ở một ký túc xá chuyên dành cho thực tập sinh và nghiên cứu sinh nước ngoài. Hòa được bạn dẫn lên tầng 6, vào một căn hộ khép kín có đầy đủ tiện nghi. Tắm rửa sạch sẽ, xúng xính trong bộ quần áo pijama của bạn. Hòa bước vào phòng khách. Lân- bạn Hòa kêu lên:
- Ồ! Nhìn cậu hãy còn phong độ lắm, ai dám bảo là cậu đã hơn năm chục tuổi.
- Ừ! Ai cũng bảo tớ chưa quá 40 !
Hòa vui vẻ đùa lại.
Cả bọn vui vẻ, ôn nghèo kể khổ từ ngày xửa ngày xưa. Bỗng có tiếng gõ cửa nhè nhẹ, rồi một cô gái bước vào với nụ cười duyên dáng:
- Em chào các anh! Nghe nói có bạn thân của anh Lân sang chơi, em có nấu nồi cháo gà mời các anh ăn cho vui.
Lân quay sang Hòa giới thiệu:
- Đây là cô Ngân, ở đây được liệt vào loại tuổi trẻ tài cao. Người ta gọi cô ấy là nữ soái đấy.
Hòa có cảm tình ngay với Ngân, cô có dáng người chắc đậm, nhưng đường nét ở khuôn mặt lại rất thanh tú. Hàm răng trắng đều đồng bộ với làn da trắng và cái má lúm đồng tiền.
Cả bọn kéo sang nhà Ngân, vừa húp cháo gà xì xụp vừa làm quen với nhau. Nghe qua những bước thăng trầm của Hòa, cuối bữa ăn, Ngân bỗng đề nghị:
- Hay anh Hòa chưa về Việt Nam vội, ở lại làm ăn với chúng em, đức tính cẩn thận của anh sẽ giúp chúng em được nhiều lắm.
Hòa cảm thấy bất ngờ , nhưng cũng thú vị với lời đề nghị của Ngân. Anh hứa để suy nghĩ một đêm rồi sẽ trả lời..
Để có thêm sức thuyết phục, Ngân dẫn Hòa và Lân vào một căn hộ bên cạnh. Bên trong có hai người đang chăm chú làm việc. Ánh đèn xì xanh lè đang nhấp nháy. Ngân nói nhỏ :
- Đây là nơi để chế biến vàng của em, người ta mang đến bán cho em những linh kiện mạ vàng có ở máy tính, máy bay…, số giắc vàng đó được cho vào axít. Axít sẽ phân hủy các lõi sắt để còn lại hỗn hợp vàng. Hỗn hợp này đuợc cho vào hóa chất để tách riêng ra thành thứ vàng mầu cà phê mà người ta gọi là riêu cua.. Anh có thể xem khâu cuối cùng của công đoạn làm vàng.
Hòa chăm chú theo dõi người thợ. Trong tay anh ta có một bọc giấy bằng bạc, trong đó đổ đầy ắp thứ nước đặc sánh màu nâu, chắc đó là riêu cua như Ngân bảo.
Khi ánh đèn khò xanh lè chọc vào túi bạc, thì những giọt vàng nối nhau chảy xuống thành dải vàng sáng rực hấp dẫn. Chao ôi! Chưa bao giờ Hòa thấy nhiều vàng đến thế. Ngày xưa khi đi hỏi vợ, anh phải vay bạn bè thêm mới mua nổi cái nhẫn hai chỉ làm nhẫn cưới .
- Mỗi mẻ thế này cũng phải được 14-15 cây vàng anh ạ
Ngân cắt ngang dòng suy nghĩ của anh bằng tiếng thầm thì.
Đêm hôm đó, Hòa trằn trọc không ngủ, đấu tranh giữa về và ở, giữa cái nghèo khó và cơ hội làm giầu đang trong tầm tay. Rồi hình ảnh dễ mến của Ngân cứ đọng mãi trong anh với lời trêu chọc của thằng Lân cứ vọng lại :
- Nhất ông đấy. cô Ngân chưa mời ai hợp tác bao giờ. Ông ở lại, vừa có tiền, vừa có nhiều thứ hay ho khác! Hay là muốn về với bà vợ già ở quê ?
Anh thở dài, nhớ đến Ngũ Tử Tư thời xa xưa ở Trung Quốc, suy nghĩ một đêm mà bạc trắng mái đầu. Anh nghĩ mình chắc cũng như vậy, nếu tóc mình chưa bạc, chắc cũng bạc tráng đầu như Ngũ Tử Tư.
Anh quyết định ở lại.
Những tháng ngày tiếp nối, Hòa và Ngân lăn vào cơn lốc kiếm tiền. Hàng ngày Hòa đi thu gom giắc vàng ở các nơi trong thành phố. Ngân phân phối vàng đến những nơi tiêu thụ rồi đổi ra thành đôla.
Ngày qua ngày, Hòa cảm thấy quý mến Ngân hơn và ngược lại Ngân cũng thế. Rồi cái ngày đó cũng đến, một buổi tối mùa đông , Hòa nhìn ra cửa sổ ngắm những bông tuyết li ti bay lượn rồi đậu lại trên những cành cây trụi lá. Ngân đi đến bên cạnh cùng nhìn ra cửa sổ. Mùi tóc thơm của Ngân làm anh xúc động, không cầm được lòng mình, anh đưa tay lên vuốt nhẹ lên tóc Ngân. Ngân quay lại nhìn anh, bốn mắt nhìn nhau không chớp rồi Ngân gục đầu vào anh lúc nào không rõ. Đêm đó tất cả những nỗi đam mê, những ham muốn của một người đàn ông lâu ngày xa vợ và của một người đàn bà vắng chồng đã vỡ ra như một cơn bão khổng lồ, không có gì ngăn cản nổi. Một lúc sau hai người nằm bên nhau với thân xác rã rời, mỗi người đều theo đuổi một ý nghĩ. Một chút ân hận thoáng qua khi nghĩ đến vợ, nhưng Hòa cũng tự nhủ rằng dù sao vợ anh cũng đã lớn tuổi, đã bước vào thời kỳ mà y học gọi là thời kỳ tiền mãn kinh rồi nên chắc bà ấy cũng thông cảm, hơn nữa còn có con cái ở bên cạnh.
Ngân nhớ đến chồng không phải vì ân hận mà chỉ so sánh Hòa với ông chồng nát rượu, vũ phu mà thôi.
Sau cái đêm đáng nhớ ấy, Hòa và Ngân sống như vợ chồng, tất cả vốn liếng có được, anh đưa Ngân giữ với niềm tin tưởng tuyệt đối. Cũng có lúc anh nhớ tới người vợ tần tảo, nhớ hai đứa con đang lớn khôn từng ngày, nhưng những giây phút ấy trôi đi rất nhanh khi có Ngân bên cạnh.
Một buổi chiều tháng sáu khi anh lễ mễ mang chiếc valy đầy linh kiện về, thì trước cửa ký túc xá có xe công an, xe cứu thương xếp hàng dài và nhiều người hối hả chạy đi chạy lại. Người ta mới kể cho anh biết rằng Minh- người làm cùng với anh, khi đang tập trung làm việc đã không biết rằng can axít bị thủng, những giọt axít chảy ra ngoài, bốc hơi đậm đặc, anh hít phải nhiều axít và phổi anh đã không còn khả năng làm việc. Minh được đưa gấp vào bệnh viện, nhưng những phương tiện hiện đại nhất của bệnh viện cũng không giúp được anh.Anh mất ở đó. Sau cái chết của Minh, Hòa và Ngân chuyển đến nơi ở mới. Đó là căn hộ thuê lại của một ông già về hưu.Vì cần tiền nên ông cho thuê và chuyển về quê để sống. Cái ngõ khuất nẻo này đã lâu lắm rồi bóng đèn đường lối vào bị cháy mà không ai thay, chắc mấy anh thợ điện đã quên đi sự tồn tại của nó.
Hòa không thích cái ngõ này chút nào, vì khi đi qua ngõ nó cứ rờn rợn thế nào ấy. còn Ngân lại thích vì nó tách biệt, rất tiện cho việc làm vàng.Thay chỗ của Minh là Bình, một chàng trai khỏe mạnh, đàn hay, hát giỏi và lại biết lái xe. Phải mất mấy ngày cả bọn mới lắp xong ống thông gió và một vài việc khác để khi tách vàng, khói lên nhiều cũng không bị phát hiện.
Công việc lại nhịp vào vòng quay của nó, nhưng hiệu quả càng ngày càng kém. Ngân mua xe ô tô để tiện cho Ngân và Bình đi tìm nguyên liệu. Hòa lặn lội đi khắp nơi để tìm thêm khách hàng. Tối về ai cũng mệt mỏi, ngay cả trong bữa cơm, không khí cũng nặng nề và có phần gượng gạo. Hòa cũng chạnh lòng khi thấy Ngân chăm sóc Bình quá mức cần thiết.
Một hôm Bình đưa Ngân đi thăm người bạn, rất khuya vẫn chưa về. Hòa đi đi lại lại trong nhà với cảm giác nặng nề khó tả.: lo ư? Không phải ! Ghen ư? Chưa hẳn thế! Anh chỉ mường tượng cái gì đó không hay sắp xảy đến.Anh đi vào buồng rửa mặt, soi mặt vào gương. Anh giật mình vì trong gương là một ông già với những nếp nhăn dài trên đuôi mắt, hố mắt trùng sâu với ánh mắt vô hồn. Mình đây ư! Một thằng mà bạn bè bảo là phong độ đây ư? Hòa đau đớn thầm nghĩ: Âu cũng là cái giá phải trả cho những đồng tiền đang có.Đêm đó anh suy nghĩ suốt đêm và suy nghĩ mông lung.
Rồi phong trào làm vàng cũng đi vào cuối vụ. Cả bọn quyết định làm mẻ lớn cuối cùng rồi chuyển sang kinh doanh mặt hàng khác. Đêm đó mọi công việc được tiến hành khẩn trương và thuận lợi. Mẻ hàng lớn nhất đã được tách xong, công đoạn cuối cùng đang vào công đoạn gấp rút. Cả bọn xúm quanh, vui mừng nhìn dòng chảy tinh khiết của vàng đang chảy dần, chảy dần xuống, ánh vàng sáng lên lấp lánh, lấp lánh cả ảnh mắt của những người đang chờ đợi. Bỗng có tiếng quát to:
- Mở cửa mau, công an đây.
Cả bọn lặng người đi, ai nấy đều hoảng hốt và ánh vàng cũng tắt lịm khi không còn ánh đèn khò.Tiếng đập cửa mỗi lúc một to và dữ dội cùng tiếng quát tháo:
- Tao đếm đến năm, không mở cửa, tao sẽ phá.
Bất giác mọi người cùng nhìn vào bát vàng sóng sánh. Ngân nói, giọng run run:
- Thôi cho vào toilet rồi xả nước đi, thà mất của còn hơn rũ tù..
Bình mang bát vàng vào toilet, tiếng giật nước ào ào làm tim mọi người như thắt lại. Trong khi Ngân vừa trả lời, vừa chậm chạp ra mở cửa thì Hòa đã kịp giấu hết những dụng cụ làm vàng. Đám công an ùa vào như cơn lốc, nhìn ngược nhìn xuôi, người mở tủ quần áo, người lật giường đệm lên, người lật từng trang sách tìm tiền nhưng không thấy gì giá trị ngoài 200$ Hòa để trong túi áo comlê. May là số tiền Ngân giấu ở dưới thảm mà chúng nó không tìm thấy.
Người trưởng nhóm bảo Hòa:
- Ông phải đi với tôi về đồn để giải trình xem số tiền đô này từ đâu mà có.
Xe dẫn Hòa đi lòng vòng rồi dừng lại ở một nơi xa lạ, họ đẩy Hòa ra khỏi xe rồi phóng đi mất. Không còn một đồng trong túi để đi taxi, Hòa mày mò hỏi đường đi bộ về nhà.
Phải mất gần 2 tiếng đồng hồ anh mới về đến ngõ.
- Mẹ kiếp, tối quá. Chẳng thằng nào chịu thay bóng đèn. Anh rủa thầm trong bụng
Trèo lên tầng hai anh giật mình vì cánh cửa hé mở và trong nhà không có ai. Anh chưa kịp hiểu điều gì đang xảy ra thì một mẩu giấy nằm trên bàn đập vào mắt .Anh run run đọc những dòng chữ nguệch ngoạc :
“ Anh Hòa.
Mọi cái đã không còn gì nữa. Tôi và Bình sẽ đi chỗ khác.Anh cố lo cho bản thân”. Phía dưới là chữ ký của Ngân.
Cảm giác cô độc không còn ai bên cạnh, không còn một đồng xu làm anh khó thở. Anh cố lần ra ban công nhưng khi nhìn vào ngõ hẹp tối đen anh thấy hoa mắt, đầu óc quay cuồng và không biết gì nữa .
Mấy ngày sau,trên các báo cộng đồng có dòng nhắn tin ngắn ngủi :
“Anh LêVăn Hòa 53 tuổi, bị chấn thương sọ não đang nằm điều trị ở bệnh viện Bốtkina. Ai là người thân của anh xin mời đến bệnh viện giúp đỡ”.
Hai tháng sau khi có dòng tin nhắn ấy, người ta thấy Lân làm thủ tục hải quan trên chuyến bay Mátxcơva-Hà Nội cho một người đàn ông gầy gò có nước da xanh mét. Trong khi chờ làm thủ tục, người đàn ông ấy bần thần nhìn về phía xa xăm và lẩm bẩm một mình:
- Tối quá, chẳng đứa nào chịu thay bóng điện cả.
Sông hồng. hè 2004
 
Back
Top