Mỗi bài thơ, một cảm nhận

"Hoa hậu của nhà" - Một bài thơ cảm động tặng vợ


Thơ viết về vợ mà nghiêm trọng quá chưa chắc người đọc đã thích. Cười cười cợt cợt một chút, tinh nghịch hóm hỉnh một chút người đọc sẽ thú vị. Cũng đã nhiều nhà thơ cho vợ mình là "Hoa hậu của nhà" nhưng tôi thích bài của nhà thơ Vương Trọng hơn cả.

Nhà có ba trai: hai con một bố
Chỉ mình em độc đắc nữ thôi mà
Anh bạc đầu chưa qua thời nhí nhố
Cứ gọi em là hoa hậu của nhà!

Hoa hậu của nhà không đánh phấn
Quạt bếp than bén lửa, má đỏ hồng
Chưa từng diện mốt áo dài, áo tắm
Áo bà ba em mặc đủ thong dong.

Thong dong đạp xe ngày mấy lượt
Tuột xích, tay lem lấm vẫn cười
Đi làm về gặp nhà có khách
Chiếc làn đi chợ đợi em thôi.

Hoa hậu của nhà ngày giỗ Tết
Chẳng thích ngồi cùng phim ảnh Đông, Tây
Tay đũa, tay muôi nấu xào dưới bếp
Tiếng mỡ xèo nổi khúc nhạc êm say!

Mâm dọn ra, chồng và con như khách
Chỗ em ngồi mấy phía nồi niêu
Vừa xong bữa, cả nhà đi sạch
Hoa hậu cùng mâm bát nhìn theo.

Tất bật chưa xong đà hết Tết
Suốt mấy hôm chưa ra ngõ một lần
Vẫn vui vẻ nói cười bên bể nước
Mấy chậu đầy quần áo giặt khai xuân!

Vương Trọng



Anh viết chuyện thật của nhà anh: "Nhà có ba trai: hai con một bố". Xếp "bố" và "hai con" vào một rọ đã là hóm rồi! Nhà "ba trai" tức là có 3 người bày và chỉ một mình vợ là người dọn dẹp. Mệt thật!

Chi tiết trong thơ khá chọn lọc, đúng với nhiều người. Và độc giả có thể thấy vợ nhà thơ thật bình dị:

- Không đánh phấn
- Quạt bếp than
- Chưa từng diện mốt áo dài, áo tắm
- Chỉ mặc áo bà ba

Ở đây, có lẽ tác giả cũng có cường điệu lên một chút cho vui. Mấy năm trước đun bếp than thật, nhưng bây giờ dùng bếp ga rồi!

Sang khổ thơ thứ 3 thì có tới 3 câu kể việc, câu thứ tư lại thật tâm tình: "Chiếc làn đi chợ đợi em thôi". Vợ không đi thì còn ai đi nữa. Vẫn là nhiệm vụ của người đàn bà nhưng được chồng thông cảm "hạ" cho một câu thơ như thế nghe cũng mát lòng.

3 khổ thơ cuối đều nói lên sự tất bật, vất vả của người vợ. Mà khổ nào cũng dồn trọng lượng vào 2 câu sau:

- Tay đũa, tay muôi nấu xào dưới bếp
Tiếng mỡ xèo nổi khúc nhạc mê say.
- Vừa xong bữa, cả nhà đi sạch
Hoa hậu cùng mâm bát nhìn theo.
- Vẫn vui vẻ nói cười bên bể nước
Mấy chậu đầy quần áo giặt khai xuân!

Có lẽ người chồng nào cũng tìm thấy ở bài thơ này dáng nét tất bật và tình yêu thương chồng con vô bờ bến của vợ mình. Chỉ có điều nói ra thế nào cho thành vần, thành điệu lại là việc khó. Vương Trọng đã quan sát, đã hiểu thấu tình cảm và tấm lòng của vợ nên mới viết được như thế. Anh không ca ngợi vợ mà tả chân với một bút pháp hóm hỉnh, tinh nghịch, với tấm lòng đằm thắm yêu thương dành cho người vợ của mình.

Nguyễn Bùi Vợi
 
Đám cưới một linh hồn.
(Vũ Bình Lục)


Người chiến binh để lại một chân trên Cánh đồng chó ngáp (*)
Nửa đời bôn ba chắp nối một lời nguyền
Gặp lại người yêu giữa Trường Sơn ngàn bia mộ.

Lời hẹn ba mươi năm
Giờ hoá cỏ xanh rờn.

Anh đã ngoại ngũ tuần
Người yêu anh vẫn trẻ
Anh cưới em
Anh cưới một linh hồn
Bông huệ trắng thơm tím chiều hoang vắng
Ly rượu buồn anh tưới đẫm hoàng hôn.

Giờ thì em đã vu quy
Em đã vu quy
Như lời xưa hai đứa mình hẹn ước
Mà bên anh hư ảo một hình hài
Trời xanh ngắt
Mây giăng tà áo cưới
Dấu chân tròn…
Lá rừng xanh mắt ai!

(* Một địa danh nổi tiếng thời chống Mỹ, thuộc tỉnh Tây Ninh).

Sau khi đọc lại mấy bài thơ của bác Phan ở đầu TL, Eve nhớ đến bài thơ này, gửi lên tặng bác.Bài thơ này phỏng theo 1 chuyện có thật về 1 người lính sau khi có vợ vẫn tương tư về người yêu cũ đã nằm xuống trong chiến tranh. Bà vợ đã chủ động làm 1 lễ cưới cho chồng với linh hồn của cô người yêu cũ.

Bài thơ thật ấn tượng. Đọc xong câu chuyện khá ly kỳ rùng rợn ấy và đọc bài thơ này, Eve đã gần như lặng đi vì kinh ngạc và vì cảm động. Eve thấy mấy câu này thật tuyệt vời:

Anh cưới em
Anh cưới một linh hồn
Bông huệ trắng thơm tím chiều hoang vắng
Ly rượu buồn anh tưới đẫm hoàng hôn.
 
Bài thơ hay quá Eve ạ, và cảm động nữa...
Đời phụ nữ chỉ cần như thế là được an ủi lắm rồi!
 
dinhtuhuong nói:
Cám ơn nhà thơ “Vài khoảnh khắc tháng tư” và nhà bì́nh thơ đă nhắc nhở chúng tôi- những người đă chứng kiến cuộc chiến tranh và cả các bạn trẻ sau này: chúng ta đang sống với những bân bịu lo toan cho cuộc sống đờI thường , nhưng chúng ta còn nợ cuộc đời này nhiều lắm…
Xin thắp một nén nhang để tưởng nhớ nhứng người trai đă ra đi ...“là con trai măi măi” .

Tôi rất cảm động đọc “Vài khoảnh khắc tháng tư”, cả nhưng dòng tâm sự, cảm nhận bài thơ đó của CNĐN, ĐTH, và của chính tác giả Phan Hoa May. Bản thân mình, vào thờI khói lửa lại ở xa Tố quốc, sau này về làm việc được đi vào chiến trường xưa, chứng kiến nhiều những tích của cuộc chiến tranh ác liệt. Điều gây xúc cảm lớn nhất đốI với tôi là hang đá ở km16 đường 20 Quyết Thắng (Quảng Bình), nơi 13 chiến sỹ và TNXP bị chôn vùi sau một trận ném bom của Mý, không cách gì cứu được, sau hy sinh cả. Thi thể họ còn trong đó tớI ¼ thế kỷ khi tôi tới. Bài thơ sau đây bật ra, được ghi vào giấy và găm lại trong khe đá, nơi họ hy sinh. Năm sau nữa, hang đá mớI được khai quật. Hài cốt các chiến sỹ và TNXP đã được an táng ở quê nhà. Giờ nơi ấy có lập miếu thờ, có bia đá khắc ghi họ tên từng người…

TIẾNG VỌNG

Từ thẳm sâu hoang mạc đá Kẻ Bàng
Vọng tiếng vượn gọi đàn thời hỗn mang nguyên thuỷ
Tiếng tách vỡ lây lan của những chiếc lu sành sót trong hang đá
Tiếng ngọn gió vô hình khao khát tìm nhau.

Áp tai vào mạch đá tôi nghe
Những tiếng vọng xót lòng hơn muối xát:
"Khát, khát quá, nước, nước, nước..."
Giọng con gái con trai
Ám vào đá thời gian không xoá được.

Tiếng vọng gọi tôi về quá vãng
Khi mặt đất nơi đây bom thù làm dị dạng
Và những người con gái con trai chiến đấu giữ con đường
Sau một tiếng nổ trầm, tất cả bị vùi chôn1.

Ngày ấy tôi còn ở xứ sở xa xăm
Rất xa cái chết
Đọc trang sách trong ngời ánh tuyết
Ắn miếng bánh ngon không khét khói bom
Tôi đâu biết nơi đây hoang tàn, khốc liệt.

Giữa đường phẳng mà bước tôi hẫng hụt -
Sao vòng vo quá nửa đời người tôi mới tới đây?
Sao vẫn chưa về, hỡi hồn thiêng các anh các chị
Sau hai mươi năm Nam Bắc sum vầy?

Những ngọn gió vẫn tìm nhau vật vã
Những chiếc lu sành vẫn lây lan nứt vỡ
Tôi đứng đây trước hoang mạc Kẻ Bàng
Lắng tiếng gọi từ một phần tư thế kỷ
Như những tia hy vọng mong manh lách len qua kẽ đá.

Tôi hiểu những giọt lệ lúc này chỉ là vô nghĩa
Khi trước tiếng gọi thiêng liêng kia chỉ biết cúi đầu
Những linh hồn còn kẹt dưới lòng sâu
Tầng đá nặng
Bước chân đi sao dễ!

Quảng Bình, 1995

---------------------------------------------
1 Tại hang đá ở kilômet 16 đường 20-Quyết Thắng, năm 1972 bom Mỹ đã chôn vùi 13 nam nữ thanh niên xung phong và bộ đội ta trong một trận chiến khốc liệt.
 
Eve nói:
Đám cưới một linh hồn.
(Vũ Bình Lục)
Bài thơ thật ấn tượng. Đọc xong câu chuyện khá ly kỳ rùng rợn ấy và đọc bài thơ này, Eve đã gần như lặng đi vì kinh ngạc và vì cảm động. Eve thấy mấy câu này thật tuyệt vời:
Anh cưới em
Anh cưới một linh hồn
Bông huệ trắng thơm tím chiều hoang vắng
Ly rượu buồn anh tưới đẫm hoàng hôn.

Eve ơi, đọc bài thơ Eve post lên, tôi nhớ một lần đã gặp trong rừng Trường Sơn nấm mộ một người con gái hy sinh trong chiến tranh. Đồng đội về hết cả rồi, nhưng cô vẫn nằm lại. Nấm mộ ám ảnh tôi mãi, và chỉ khi viết được lên cảm xúc của mình, tôi mới thấy món nợ nhẹ bớt phần nào. Tôi cũng gặp trong TS nhiều chuyên thương tâm nữa, và cảm thấy mình đang đi trong một “cuộc chiến tranh hoá thạch” - đấy là chữ Trần Đăng Khoa viết khi đọc mảng thơ này của tôi. Nghề tôi là địa chất mà. Gửi tặng Eve bài thơ ấy nhé.

CÒN LẠI MỘT MÌNH

Nơi đây chẳng còn ai đâu
Còn lại mình em với đá
Mình em - mưa đông nắng hạ
Mình em - cỏ mướt màu xanh...

Nhớ đồng đội vá đường thâu canh
Có hôm ngủ vùi suốt sáng
Đói - vào rừng tìm măng đắng
Buồn - ngóng phía trời xa...

Tháng ngày lầm lụi qua
Tóc con gái rụng dần, da tái
Vời vợi Trường Sơn chân bước mải
Vực thẳm, khe sâu chẳng ngại ngần...

Thế rồi buổi ấy, bất thần
Trúng mảnh bom thù, em ngã.
Bướm vẫn lượn nhởn nhơ lèn đá
Hoa vẫn đơm trắng xoá đầu cành...

Đồng đội nhường em túm bồ kết rừng
Chiếc lược cũ từng chuyền tay gỡ tóc
Mảnh gương nhỏ bạn bè từng ngắm vuốt
Cũng dành cho em.

Cho em
Cho em
Giấc ngủ bình yên...

* * *

Nơi đây chẳng còn ai đâu
Còn lại mình em với đá
Mình em - mưa đông nắng hạ
Mình em - cỏ ngút ngàn xanh...

Trường Sơn 1999
 
Bác Geobic,

Hai bài thơ trên của bác Geo qủa là big. Em rất thích những câu:

[color=blue:c897bd158e]Giữa đường phẳng mà bước tôi hẫng hụt -
Sao vòng vo quá nửa đời người tôi mới tới đây?
Sao vẫn chưa về, hỡi hồn thiêng các anh các chị
Sau hai mươi năm Nam Bắc sum vầy?[/color]

hay:

[color=blue:c897bd158e]Đồng đội nhường em túm bồ kết rừng
Chiếc lược cũ từng chuyền tay gỡ tóc
Mảnh gương nhỏ bạn bè từng ngắm vuốt
Cũng dành cho em. [/color]

Rất giản dị, chân thành và rất cảm động.
Cám ơn bác Geobic.
 
Cuộc kháng chiến chống Mỹ đã qua lâu, mà sao sự khốc liệt của nó vẫn ẩn hiện đâu đây. Trần Đăng Khoa cũng vốn là một người lính, anh đã khắc hoạ hình ảnh người thày giáo của mình từ chiến trường trở về nhà dạy các em thơ những bài toán và cả bài học cuộc đời. Anh viết giản dị nhưng dâng đầy cảm xúc
Thày giáo
Trần Đăng Khoa

Thầy ngồi ghế giảng bài
Xếp cạnh bàn đôi nạng gỗ
Một bàn chân đâu rồi
Chúng em không rõ

Sáng nào bom Mỹ dội
Phượng đổ ngổn ngang, mái trường tốc ngói
Mặt bảng đen lỗ chỗ vết bom bi
Thầy cầm súng ra đi
Bài tập đọc dạy chúng em dang dở
Hoa phượng
Hoa phượng cháy một góc trời như lửa

Năm nay thầy trở về
Nụ cười vẫn nguyên vẹn như xưa
Nhưng một bàn chân ko còn nữa
Ôi bàn chân
in lên cổng trường những chiều giá buốt
In lên cổng trường những đêm mưa dầm
Dấu nạng hai bên như hai hàng lỗ đáo
Chúng em nhận ra bàn chân thầy giáo
Như nhận ra cái chưa hoàn hảo
Của cả cuộc đời mình

Bàn chân thầy gửi lại Khe Sanh
Hay Tây Ninh, Đồng Tháp ?
Bàn chân đạp xuống đầu lũ giặc
Cho lẽ sống làm người
Em lắng nghe thầy giảng từng lời
Rung động bao điều suy nghĩ
Nghe thầm vọng bàn chân đi đánh Mỹ
Nghe âm vang tiếng gọi của chiến trường
Em đi suốt chiều dài yêu thương
Chiều sâu đất nước
Theo những dấu chân người thầy năm trước

Và bàn chân thầy, bàn chân đã mất
Vẫn dẫn chúng em đi trọn vẹn cuộc đời.......
 
Geobic nói:
Eve ơi, đọc bài thơ Eve post lên, tôi nhớ một lần đã gặp trong rừng Trường Sơn nấm mộ một người con gái hy sinh trong chiến tranh. Đồng đội về hết cả rồi, nhưng cô vẫn nằm lại. Nấm mộ ám ảnh tôi mãi, và chỉ khi viết được lên cảm xúc của mình, tôi mới thấy món nợ nhẹ bớt phần nào. Tôi cũng gặp trong TS nhiều chuyên thương tâm nữa, và cảm thấy mình đang đi trong một “cuộc chiến tranh hoá thạch” - đấy là chữ Trần Đăng Khoa viết khi đọc mảng thơ này của tôi. Nghề tôi là địa chất mà. Gửi tặng Eve bài thơ ấy nhé.

CÒN LẠI MỘT MÌNH

Nơi đây chẳng còn ai đâu
Còn lại mình em với đá
Mình em - mưa đông nắng hạ
Mình em - cỏ mướt màu xanh...

Nhớ đồng đội vá đường thâu canh
Có hôm ngủ vùi suốt sáng
Đói - vào rừng tìm măng đắng
Buồn - ngóng phía trời xa...

Tháng ngày lầm lụi qua
Tóc con gái rụng dần, da tái
Vời vợi Trường Sơn chân bước mải
Vực thẳm, khe sâu chẳng ngại ngần...

Thế rồi buổi ấy, bất thần
Trúng mảnh bom thù, em ngã.
Bướm vẫn lượn nhởn nhơ lèn đá
Hoa vẫn đơm trắng xoá đầu cành...

Đồng đội nhường em túm bồ kết rừng
Chiếc lược cũ từng chuyền tay gỡ tóc
Mảnh gương nhỏ bạn bè từng ngắm vuốt
Cũng dành cho em.

Cho em
Cho em
Giấc ngủ bình yên...

* * *

Nơi đây chẳng còn ai đâu
Còn lại mình em với đá
Mình em - mưa đông nắng hạ
Mình em - cỏ ngút ngàn xanh...

Trường Sơn 1999

Cám ơn bác Geobic về bài thơ và về sự đồng cảm. Bài thơ này tuyệt lắm.
 
Eve tìm được bài báo này trong mục Chuyện lạ có thật của báo An NInh cuối tháng:

“Anh ấy đã cưới một linh hồn”
(Báo An NInh cuối tháng)

Tôi và anh H. cùng một đơn vị. Chúng tôi cùng lên đường vào chiến trường miền Nam năm 1964. Chính trong những ngày tháng gian khổ ở đường mòn Hồ Chí Minh, anh H. đã yêu một nữ quân y. Chị ấy tên là P. Hình như họ sinh ra để cho nhau. Bởi thế mà chỉ trong lần gặp đầu tiên, họ đã say đắm nhau. Tôi nhớ lần ấy chúng tôi chỉ nghỉ chân gần Trạm Quân y nơi P. làm việc có một ngày một đêm. Chỉ trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy mà mối tình của hai người sau này trở thành một câu chuyện. Hai người đã hẹn ước nên vợ nên chồng khi chiến tranh kết thúc. Lời hứa hẹn của hai người lúc đó còn cao hơn cả lời tuyên thệ của những người lính trước khi bước vào trận đánh.
Sau này vào sâu trong chiến trường, anh H. vẫn tâm sự với tôi về lời hẹn ước đấy. Lúc đầu tôi cũng nghĩ đó là lời nói của một tâm hồn lãng mạn. Nhưng sau này, tôi hiểu ra đó là lời hẹn ước máu thịt mà không gì có thể phá vỡ ngoài cái chết. Trong chiến tranh có biết bao điều không thể lường trước được. Từ buổi gặp nhau gần trạm quân y trong một cánh rừng Trường Sơn, anh H. và chị P. không bao giờ gặp nhau nữa.
Năm 1973, anh H. trở về quê hương. Anh bị mất một chân trong một trận đánh gần hồ Dầu Tiếng ở Tây Ninh. Anh giải ngũ và chuyển vào làm việc trong một nông trường ở Ninh Bình. Năm 1975, chiến tranh kết thúc. Anh H. bắt đầu tìm cách hỏi thăm tin tức chị P.
Sau hòa bình, tôi đến nông trường thăm anh H. Anh H. lại nói với tôi về đám cưới của hai người. Nhưng đã hơn mười năm, hai người không có tin tức của nhau. Sau ngày hòa bình, anh H. đã tìm đến Ban quân sự tỉnh Quảng Bình quê chị, để hỏi thăm tin tức. Không may là anh không biết cụ thể xã, huyện của chị P. Những người ở Ban quân sự đã giúp anh tìm ra người có tên họ như của chị P. Anh H. đã tìm đến tận quê quán người đó. Nhưng họ tên thì đúng mà người thì không đúng. Anh H. không hề nản chí.
Mỗi khi có điều kiện anh lại đến những nơi có thể hỏi thăm tin tức chị P. Việc tìm kiếm tin tức về chị P. kéo dài trong nhiều năm. Thấy câu chuyện có vẻ như là chuyện trong mơ, tôi khuyên anh P. nên lập gia đình. Tôi nói với anh, có thể P. không phải tên thực của cô gái đó. Nhưng anh H. gạt ngay ý nghĩ đó của tôi ra. Anh H. bảo chỉ người trong cuộc mới biết tình cảm của họ với nhau như thế nào.
Mấy năm sau, có dịp công tác tại nông trường anh H., tôi nói thẳng với anh H. ý nghĩ của tôi về chuyện tình yêu của anh và chị P. Có thể chị P. nghĩ đến chuyện sống chết của người lính thật mong manh mà nhận lời đợi chờ anh như một sự động viên. Chuyện hẹn hò như vậy không phải là chuyện đặc biệt gì trong thời chiến tranh với hàng vạn cuộc gặp gỡ của những người lính còn trẻ. Những lời hẹn ước như thế nơi mặt trận không phải là sự giàng buộc.
Anh H. vẫn cứ tiếp tục hỏi thăm tin tức và chờ đợi. Hòa bình đã bảy tám năm rồi. Nhiều lúc anh nghĩ chị đã hy sinh. Nếu chị P. còn sống và còn yêu anh thì chị đã đi tìm anh. Cuối cùng anh H. cũng xây dựng gia đình với một nữ công nhân nông trường. Hai vợ chồng anh sống rất hạnh phúc.
Một lần, anh H. cùng các cựu chiến binh thực hiện một chuyến đi về đường mòn Hồ Chí Minh. Họ đã đến một nghĩa trang liệt sĩ, nơi chôn cất thi hài của nhiều người lính Trường Sơn. Anh H. đã thấy ngôi mộ một chiến sĩ trùng tên và quê quán mà chị P. đã nhắn gửi lại anh. Trong anh ngọn lửa hy vọng lại bừng cháy. Anh tức tốc trở lại Quảng Bình. Anh tìm đến đúng địa chỉ được ghi trên bia mộ. Khi bước vào nhà, anh bàng hoàng nhận ra tấm ảnh trên ban thờ chính là chị P.
Lúc này anh mới biết, chị P. đã hy sinh sau khi họ chia tay nhau được bảy tháng. Chính vì thế mà anh H. đã chờ đợi mãi nhưng không thấy chị P. trở về. Anh H. vô cùng đau khổ.
Anh trở về và kể cho vợ anh câu chuyện của anh và chị P. Vợ anh cảm động và càng quý trọng chồng mình. Chị nói với anh có thể lập một ban thờ nhỏ để thờ chị P. Anh H. không đồng ý. Nhưng đến một ngày anh đã nói với vợ một ý định kỳ lạ. Anh muốn làm lễ cưới với chị P. Anh nói với vợ rằng, lúc còn bên nhau họ đã hứa hẹn nên vợ nên chồng khi chiến tranh kết thúc, anh muốn hoàn thành nguyện ước năm xưa.
Nghe ý định của chồng, người vợ đã khóc. Chị hiểu và tôn trọng tình cảm thiêng liêng của những người lính và lòng thủy chung của chồng. Sau một vài ngày suy nghĩ, chị đồng ý để anh H. làm lễ cưới với chị P. Anh H. viết thư cho tôi nói về đám cưới đó và nhờ tôi giúp đỡ. Đọc thư xong tôi bàng hoàng. Tôi chẳng bao giờ nghĩ rằng mối tình của một thời gian ngắn ngủi lại là một mối tình sâu sắc đến như vậy.
Khi tôi đến, anh H. vừa đi Quảng Bình về. Anh đã đến gặp gia đình chị P. để kể lại câu chuyện của hai người và xin gia đình họ hàng chị P. cho phép anh được cưới chị P. Cả gia đình chị P. đã khóc và cảm động trước tấm chân tình của anh H. và họ đã đồng ý.
Tôi trở thành phù rể cho anh H. Chúng tôi đã đến nghĩa trang liệt sĩ nơi mà chị P. đang yên nghỉ để đón dâu. Đến đúng ngôi mộ, anh mở chiếc balô lấy ra rất nhiều hàng mã gồm quần áo cưới, gương lược, đôi dép... Anh H. đặt tất cả mọi thứ lên mộ cùng với bức truyền thần chị P. và thắp hương. Anh chắp tay rì rầm nói chuyện với chị P. trong làn nước mắt. Sau khi hương tàn, anh đốt vàng mã rồi ôm một bó hoa lay-ơn đến trước bức truyền thần chị P. và nói: “Anh đến đón em đây”. Rồi anh ôm bức truyền thần chị P. cùng bó hoa rời nghĩa trang liệt sĩ. Anh đã cưới một linh hồn
Buổi chiều chúng tôi về đến nhà anh. Vợ anh đã chuẩn bị một mâm cơm thịnh soạn. Anh H đặt bức truyền thần chị P cạnh mâm cơm trước một chiếc bát và đôi đũa đã được người vợ chuẩn bị trước. Sau bữa cơm ấy, vợ anh dọn dẹp và xin phép đưa hai đứa con nhỏ về bên nhà ngoại. Lúc đó, tôi đã hiểu ra mọi chuyện. Tôi thầm cảm phục chị, một người phụ nữ nhân hậu và cao thượng.
Anh H. ôm bức chân dung vào buồng. Trên giường có hai chiếc gối mới tinh. Tôi sửng sốt đến lạnh người và không thể tin nổi khi còn được biết chính vợ anh chuẩn bị một cái giường cưới như thế cho đêm tân hôn của chồng. Người tôi run lên bần bật và tôi òa khóc. Tôi thấy tôi chưa bao giờ hiểu được tình yêu cũng như tấm lòng nhân ái của con người lại có thể mạnh mẽ và thẳm sâu đến như vậy. Đêm ấy, anh H. đặt bức truyền thần chị P. lên chiếc gối có thêu đôi chim hòa bình bên cạnh anh.
Cả đêm ấy, tôi không sao ngủ được. Quả thực lúc đầu tôi nghĩ anh H. bị thương và sống nhiều với bom đạn trong chiến tranh nên bị ảnh hưởng thần kinh. Nhưng sau này thì tôi đã hiểu con người anh cũng như vợ anh, một nữ công nhân một nông trường mà sao có trái tim và tấm lòng nhân hậu đến như vậy.
Sáng hôm sau tỉnh dậy, anh H. bảo tôi trông nhà để anh đạp xe sang nhà ngoại đón vợ và các con về. Bức truyền thần chị P. đã được anh gói lại và cất vào trong tủ. Anh nói với tôi: “Bây giờ tôi không còn giày vò và đau khổ nữa. Tôi có thể bắt đầu cuộc sống thanh thản với vợ con mình”
 
Thường ta gặp trong các bài thi, kiểm tra của học sinh trung học “Hãy phân tích bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mạc Tử” mà ít khi thấy có bài đề cập đến phân tích sự kỳ ảo trong tình yêu được ẩn trong bài thơ. Sau đây chúng ta đi tìm và lý giải ý nghĩa chủ đạo này. Bức tranh nơi thôn Vĩ được tác giả mượn để giãi bày chia sẻ tình cảm của mình. Tình yêu âm thầm sâu lắng của thi sỹ Hà Mạc Tử với cô gái xứ Huế cùng với tấm bưu ảnh Nàng gửi tặng cho tác giả chính là nguồn cảm hứng thi tứ cho sự ra đời của bài thơ. Ở đây, hoàn cảnh ra đời của tuyệt tác thơ ca sẽ làm chúng ta thấy cái thần cái hồn sâu sắc của bài thơ này. Nhà bác học Lê Quý Đôn đã đúc kết rằng” Trong thơ, một là tình hai là cảnh, ba là sự”.
Ta thấy ở bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, tình đây chính là chủ thể , là trạng thái cảm xúc của tác giả khi sáng tạo ra lời thơ quá đẹp. Cái khách thể: Cảnh đẹp nơi thôn Vĩ. Cái chính thể: Tình yêu của tác giả. Bài thơ có một nội dung tiềm ẩn:tình yêu đôi lứa náu mình trong tình yêu thiên nhiên. Chúng ta cảm thụ bài thơ này chắc chắn sẽ phù hợp và gần gũi hơn với bản chất “Ý tại ngôn ngoại” của thể thơ trữ tình .Tác giả không phải vô cớ dùng các đại từ nhiều khi phân thân, chuyển hoá vào nhau rất tài tình , khéo léo:
”Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền….”

Trong khổ thơ trên, xét về bề mặt của văn bản thì “Anh” là đối tượng được nói tới.Vậy chủ thể lãng mạn phải là “Em”. Nhưng thực chất, xúc cảm ấy là của tác giả muốn gửi lời. Trường hợp này, nhà thơ đã mượn lời cô gái để bày tỏ tình cảm của chính mình. Đây cũng là hình thức chuyễn cảm xúc của chủ thể cho khách thể :lấy cảnh nói lên tình.Câu thơ mở đầu là câu hỏi giản dị như một câu bình thường”Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” nhưng ta thử ngẫm thật kỹ sẽ cảm nhận ra một điều : biết bao sắc thái biểu cảm ẩn trong câu hỏi tưởng như giản dị ấy. Là một lời chào? Là một lời trách hờn ? Là một nỗi nhớ mong? Hay đơn giản chỉ là một câu hỏi ? Là một nỗi khát khao, ao uớc, chờ đợi… Thôn Vĩ đẹp, điều này sẽ đúng với ai yêu quê , nhưng có gì khiến nhà thơ gửi nhiều nỗi niềm đến nhường ấy? Đại từ “ai” phiếm chỉ thấp thoáng sau bức tranh thiên nhiên kia đã làm cho ánh nắng, sắc trời thôn Vĩ trở nên trong xanh, huyền diệu – đó là trung tâm nguồn của thi tứ. Tác giả không dùng từ “Em” xác định,tác giả chỉ ẩn ý thể hiện cảm xúc sâu lắng của mình dành cho Nàng. Tác giả mượn lời một cô gái thôn Vĩ Dạ để gửi tâm trạng uớc mong”Sao anh không về…”.Cảnh thiên nhiên ở đây đầy tâm sự e ấp, kín đáo mông lung sương khói đầy ảo ảnh với những” thuyền ai” với những “gió theo lối gió, mây đường mây” với “tình ai…” nhưng thực ra lại rất xác định, thiết tha, cháy bỏng của chính chủ thể là tình của tác giả. Đại từ phiếm chỉ “ai” góp phần tạo nên tính chất” Ý tại ngôn ngoại” với nhiều hình ảnh biểu cảm thật phong phú, trong đó chủ thể nhập vào khách thể , tâm sự chuyển hoà vào cảnh vật. Cảm xúc của chủ thể trữ tình bay bổng kỳ diệu với tất cả tình yêu dành cho Nàng là điều rất thật. Nó là linh hồn của tác phẩm. Vẻ đẹp nơi thôn Vĩ vẫn là phạm trù của khách thể. Tình yêu của tác giả dành cho Nàng mới là chủ thể. Bức hoạ thôn Vĩ là một không gian nghệ thuật làm nền cho mối tình lãng mạn lung linh mà da diết . Bài thơ không chỉ là bức tranh tả thực về thôn Vĩ mà trong đó ẩn chứa biết bao điều về tiếng lòng nhà thơ muốn gửi cho nữ sỹ của lòng mình. Chúng ta cảm nhận và thấy bài thơ giàu ẩn ý là bởi thế và tiếng thơ là tiếng nói tri âm, nó luôn hướng tới một đối tượng nào đấy để tìm sự đồng cảm, sẽ chia.
(Trong bài viết này, tôi có sử dụng nguồn trích giảng về văn thơ của giảng viên sư phạm T.Khánh, xin cảm ơn Cô .)
 
FORYTCHIA nói:
Cuộc kháng chiến chống Mỹ đã qua lâu, mà sao sự khốc liệt của nó vẫn ẩn hiện đâu đây. Trần Đăng Khoa cũng vốn là một người lính, anh đã khắc hoạ hình ảnh người thày giáo của mình từ chiến trường trở về nhà dạy các em thơ những bài toán và cả bài học cuộc đời. Anh viết giản dị nhưng dâng đầy cảm xúc
Thày giáo
Trần Đăng Khoa

Thầy ngồi ghế giảng bài
Xếp cạnh bàn đôi nạng gỗ
Một bàn chân đâu rồi
Chúng em không rõ

Sáng nào bom Mỹ dội
Phượng đổ ngổn ngang, mái trường tốc ngói
Mặt bảng đen lỗ chỗ vết bom bi
Thầy cầm súng ra đi
Bài tập đọc dạy chúng em dang dở
Hoa phượng
Hoa phượng cháy một góc trời như lửa

Năm nay thầy trở về
Nụ cười vẫn nguyên vẹn như xưa
Nhưng một bàn chân ko còn nữa
Ôi bàn chân
in lên cổng trường những chiều giá buốt
In lên cổng trường những đêm mưa dầm
Dấu nạng hai bên như hai hàng lỗ đáo
Chúng em nhận ra bàn chân thầy giáo
Như nhận ra cái chưa hoàn hảo
Của cả cuộc đời mình

Bàn chân thầy gửi lại Khe Sanh
Hay Tây Ninh, Đồng Tháp ?
Bàn chân đạp xuống đầu lũ giặc
Cho lẽ sống làm người
Em lắng nghe thầy giảng từng lời
Rung động bao điều suy nghĩ
Nghe thầm vọng bàn chân đi đánh Mỹ
Nghe âm vang tiếng gọi của chiến trường
Em đi suốt chiều dài yêu thương
Chiều sâu đất nước
Theo những dấu chân người thầy năm trước

Và bàn chân thầy, bàn chân đã mất
Vẫn dẫn chúng em đi trọn vẹn cuộc đời.......
Bác FOR mến, bài này Trần Đăng Khoa viết khi hãy còn là một cậu trò nhỏ ở vùng phủ Khoái. Sau này đi lính, thơ anh đã khác rất nhiều.
Tiện đây, giới thiệu với các bạn cuốn tiểu thuyết kiếm hiệp của Nguyễn Huy Thiệp (ký tên là Tiểu Ngọc) có tên Võ Lâm Ngoại Sử đăng trên trang talawas.org. Tiểu thuyết viết theo chương hồi như chuyện chưởng, nói về võ lâm đấy nhưng thực ra lại nói về hiện trạng của Văn học Việt Nam thời cận đại với đầy đủ các nhân vật như Xuân Diệu , Huy Cận, Nguyễn Đình Thi. Nguyên Ngọc. Dương Thu Hương, Đồng Đức Bốn...Anh Trần Đăng Khoa-chú Cuội của chúng ta là một nhân vật chính của tiểu thuyết dưới cái tên là Trần Đăng Tài. Một bước lùi sâu nữa của Nguyễn Huy Thiệp sau một hồi thóa mạ nền văn học nước nhà với "Trò chuyện với hoa lan" bị mọi người đập cho tới tấp. Nhưng...đọc cũng thấy vui vui, ít ra là cũng có đôi chút thông tin về những chuyện đồn thổi bấy nay trong làng văn.
 
hungmgmi nói:
bài này Trần Đăng Khoa viết khi hãy còn là một cậu trò nhỏ ở vùng phủ Khoái. Sau này đi lính, thơ anh đã khác rất nhiều
Bài thơ ấy tên chính xác là "bàn chân Thày giáo" TĐK viết năm 1972, tức là lúc đó anh mới khoảng 14 tuổi. Tôi đã nhầm nhọt thật rồi. Xin lỗi các bạn về sự sai xuất xứ bài thơ trên.
 
1. Conghedoinghieng thi xong môn lặn rồi à?
2. Tôi vào đọc Võ Lâm Ngoại Sử của Tiêu Ngọc - Nguyễn huy Thiệp, thấy chuối quá, không ngờ NHT "rơi thự do" xiống thấp đến thế. Tiếc cho một tài năng!
 
Ờ ờ đúng là nhầm thật, hoa thủy tiên chứ nhỉ, cảm ơn cndn đã đính chính giùm nhé. Mình đọc loạt bài này trên Người Hà Nội cuối tuần. Từ dạo uống rượu với nhau ở phố Yết Kiêu đến giờ không thấy đc sủi tăm gì cả.
 
http://vnthuquan.net/truyen/truyentext.aspx?tid=2qtqv3m3237n3nmn2n3n31n343tq83a3q3m3237ntn

Cá măng vào đó mà đọc
 
Back
Top