Mỗi bài thơ, một cảm nhận

Cám ơn bạn Tykva. Bạn có bài thơ nào nữa của TBB không thì gửi lên đây nhé. TBB có vẻ là 1 nhà thơ nghiệp dư thôi mà có những câu thơ hay thế nhỉ? Đúng là thơ hay đâu cần nhiều.
 
Eve nói:
Có bờ vai nào đủ rộng không anh?
Cho mái đầu nhỏ thôi - của một người phụ nữ
Theo NA biết thì bất kỳ bờ vai nào của đàn ông cũng đủ rộng để làm chỗ dựa cho vài ba cái đầu phụ nữ cùng một lúc. Eva không tin thì cứ rủ thêm bạn, Adam sẽ cho thấy cái điều đơn giản ấy :roll:

Theo NA, câu thơ đã dẫn ở trên không phải là câu thơ hay. Về nghĩa đen thì như trên đã nói. Còn về nghĩa bóng, có lẽ cũng không...chính đáng nốt. Ở đây tác giả hẳn muốn nói đến sự hiếm hoi của tính đáng tin cậy, khả năng che chở, sự bao dung của người đàn ông? Không biết ở đâu xa, chứ ngay ở NNN này thì chí ít cũng có đến cả tá đàn ông như thế :roll:
 
NguyenAnh nói:
Eve nói:
Có bờ vai nào đủ rộng không anh?
Cho mái đầu nhỏ thôi - của một người phụ nữ
Theo NA biết thì bất kỳ bờ vai nào của đàn ông cũng đủ rộng để làm chỗ dựa cho vài ba cái đầu phụ nữ cùng một lúc. Eva không tin thì cứ rủ thêm bạn, Adam sẽ cho thấy cái điều đơn giản ấy :roll:

Theo NA, câu thơ đã dẫn ở trên không phải là câu thơ hay. Về nghĩa đen thì như trên đã nói. Còn về nghĩa bóng, có lẽ cũng không...chính đáng nốt. Ở đây tác giả hẳn muốn nói đến sự hiếm hoi của tính đáng tin cậy, khả năng che chở, sự bao dung của người đàn ông? Không biết ở đâu xa, chứ ngay ở NNN này thì chí ít cũng có đến cả tá đàn ông như thế :roll:
Neva làm tính thử sơ sơ nhá: Trong Forum mình hiện có 740 Members. Xác suất đàn ông sẽ là 50:50 (bỏ qua nick ảo :roll: ) vì vậy sẽ có khoảng 370 đàn ông trong forum này. Vậy một tá là 12 đàn ông. Tính ra 12/370 kiểu đàn ông như vậy Neva nhẩm nhanh mới có khoảng ~ 3% thôi. Ít quá nhỉ, vậy bài thơ kia tác giả muốn nói đến sự hiếm hoi của tính đáng tin cậy, khả năng che chở, bao dung của người đàn ông kể ra cũng đúng đấy chứ 8). Ở đây NA muốn nói đến hàng tá, ờ, cứ cho là hàng tá là gấp 2, 3, 4 ...đi. Cũng chưa đến 10%...
Vì vậy cái con số hàng tá mà NA show ra ở forum mình có lẽ chưa chuẩn, theo mình có lẽ phải đến hàng mấy chục tá í :D
 
NguyenAnh nói:
Theo NA biết thì bất kỳ bờ vai nào của đàn ông cũng đủ rộng để làm chỗ dựa cho vài ba cái đầu phụ nữ cùng một lúc. Eva không tin thì cứ rủ thêm bạn, Adam sẽ cho thấy cái điều đơn giản ấy :roll:

Theo NA, câu thơ đã dẫn ở trên không phải là câu thơ hay. Về nghĩa đen thì như trên đã nói. Còn về nghĩa bóng, có lẽ cũng không...chính đáng nốt. Ở đây tác giả hẳn muốn nói đến sự hiếm hoi của tính đáng tin cậy, khả năng che chở, sự bao dung của người đàn ông? Không biết ở đâu xa, chứ ngay ở NNN này thì chí ít cũng có đến cả tá đàn ông như thế :roll:

Hì bác NA lại tếu rùi. Làm sao Eve rủ dc 1 lúc mấy bạn gái đến gặp bác để đo vai bác bi giờ? Bác gái NA sẽ cho thấy cái điều ấy nó đơn giản đến kinh khủng thế nào.

Nghiêm túc thì Eve thấy nghĩa bóng của câu thơ này hay tuyệt ấy chứ? Khó mà tìm dc người đàn ông nào ngoài đời (trừ 1 tá trong NNN hìhì) đủ tin cậy, có khả năng che chở và bao dung (tức là có bờ vai đủ rộng) để PN tựa mái đầu nhỏ nhắn của mình. Bởi vì người đàn ông nào cũng tự tin.... "có bờ vai đủ rộng cho vài ba cái đầu phụ nữ cùng một lúc " hehe.

:lol:
 
Bờ vai anh không rộng
Còm cõi với thời gian
Trơ cả xương quai xanh
Bờ vai anh không rộng

Em ơi đừng mong ngóng
Những bờ vai đủ đầy
Bờ vai anh tuy gầy
Nhưng con tim gần lắm

Em ngả đầu, đằm thắm
Êm ả giữa tình anh
Em có cả mông mênh
Bờ vai nào sánh nổi?

(Đùa một chút, bạn Eve đừng giận nha!)
 
Bờ vai anh không rộng
Còm cõi với thời gian
Trơ cả xương quai xanh
Bờ vai anh không rộng

Em ơi đừng mong ngóng
Những bờ vai đủ đầy
Bờ vai anh tuy gầy
Nhưng con tim gần lắm

Em ngả đầu, đằm thắm
Êm ả giữa tình anh
Em có cả mông mênh
Bờ vai nào sánh nổi?

(Đùa một chút, bạn Eve đừng giận nha!)
 
Phanhoamay nói:
Bờ vai anh không rộng
Còm cõi với thời gian
Trơ cả xương quai xanh
Bờ vai anh không rộng

Em ơi đừng mong ngóng
Những bờ vai đủ đầy
Bờ vai anh tuy gầy
Nhưng con tim gần lắm

Em ngả đầu, đằm thắm
Êm ả giữa tình anh
Em có cả mông mênh
Bờ vai nào sánh nổi?

(Đùa một chút, bạn Eve đừng giận nha!)

Cám ơn Bác Phan về bài thơ. Hì chị em mong muốn mấy bờ vai "rộng" theo nghĩa bóng thôi bác Phan ạ, chứ mấy bờ vai "gầy" mà gần con tim thì vẫn đáng tin cậy hơn nhiều.
Lại nhớ đến bài "như cánh vạc bay" của TCS, có câu "vai em gầy guộc nhỏ như cánh vạc về chốn xa xôi". Những bờ vai "gầy guộc nhỏ" của PN cần sự che chở của mấy bờ vai "gầy" mà ..."rộng" lắm Bác Phan và Bác NA ạ.
 
Những buổi trưa vàng thu
Trịnh Bích Ba

Những trưa vàng thu vắng
Phố rộng dài trong nắng
Đường xa trưa càng xa
Nơi nào mùa thu qua
Mùa thu trời trong gió
Mùa thu đời trong em
Xanh ngắt trời mây rộng dài đường phố
Em trên đường. Không bình yên trong em
Không dễ quên… một ngày thu ấy
Như từ thuở xa xưa đất trời vẫn vậy
Chưa một lần hiểu được vì đâu
Những buổi trưa vàng… sao con người
không thể tìm nhau
Mùa thu trời qua đi trong gió
Để lại vàng thu trên đường phố
Mùa thu đời qua đi trong em
Để lại buồn trong sâu xa bình yên
Nghe lặng im tan đi trong không gian
Những mong ước của mùa thu da diết
Nghe tuổi trẻ đang cùng mình chia biệt
Trong bình yên của vàng thu trưa nay./.


MÙA ĐÔNG ĐẾN SỚM
Trịnh Bích Ba

Nắng hanh vừa mới đến
Hoa cúc vẫn chưa vàng
Mùa thu còn ẩn hiện
Bất ngờ đông đã sang
Vừa kịp trở heo may
Trời đã mưa dâng đầy
Mưa bay mờ hàng cây
Phố mờ mưa giăng bay
Lòng mong chi chiều nay
Có gì đâu để nói
- Mưa vẫn là mưa bụi
Cây vẫn là hàng cây -
Cho mùa đông đến sớm
Giữa tuần tự tháng ngày
Cho lời lên thành tiếng
Trong lòng yêu lâu nay...?


Bí ơi tìm dc thêm mấy bài của TBB nên gửi lên đây trước, Bí gửi thêm nhé.
 
Khi người ta không còn yêu nhau của Phi Tuyết Ba
Nguyễn Hàn Chung

Mọi lời giải thích
nào có cần đâu
khi người ta không còn yêu nhau
có lẽ tốt nhất là nên im lặng

Vườn hoa đỏ trút màu thành hoa trắng
nhưng không là hoa trắng thuở ban đầu
khi người ta không còn yêu nhau
đêm nào trăng cũng lặn

Thế giới đông người ư
nhưng thiếu vắng
khi người ta không còn nữa yêu nhau
giá như quên được nỗi đau
có lẽ đó là điều tốt hơn điều tốt nhất...

Trong bài thơ Vô đề ông Lý Thường ẩn từ thuở Đường Thi mù tít mù tăm kia đă từng đau đớn than thở cho nỗi niềm chia biệt của các cặp chàng nàng: "Tương kiến thì nan biệc diệc nan". (Tạm dịch: Gặp nhau đă khó xa nhau lại càng khó hơn nữa). ấy là họ yêu nhau quá thể tơ lòng vấn vít bị hoàn cảnh khách quan rẽ thúy, chia uyên nên ruột rầu, gan héo vò xé tâm can là chuyện tất yếu rất bình thường. ở đây mới nhập vào cái tiêu đề bài thơ đă thấy không phải vậy:

Mọi lời giải thích
nào có cần đâu
khi người ta không còn yêu nhau

Phân trần giải thích chẳng còn tác dụng gì nữa khi hình đă chia, bóng đă tách trở thành 2 thực thể xa lạ, còn gì nữa đâu để níu kéo. Im đặng là tốt nhất, khoảnh khắc vô ngôn ấy sẽ làm hai con người không còn yêu nhau nữa đốn ngộ bao điều. Hệ quả tất yếu cái gì xảy ra sẽ phải xảy ra không thể nào khác được:

Vườn hoa đỏ trút màu thành hoa trắng
nhưng không là hoa trắng thuở ban đầu
khi người ta không còn nữa yêu nhau
đêm nào trăng cũng lặn...

Tôi nghĩ Phi Tuyết Ba hơi kỹ tính, chị sợ người ta hiểu nhầm màu hoa trắng trong câu thơ đầu khổ 2 nên mới thêm một câu lý giải tiếp theo. Có lẽ không cần đâu chị ạ, "trắng" làm sao được nữa. Từ trút đă nói hết rồi. "Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy" - cái lần đầu tiên rụt rè nắm lấy bàn tay thon nhỏ của em, đặt nụ hôn vụng về lên làn tóc mây huyền diệu, "bao nhiêu năm qua rồi lòng khôn nguôi gió băo" vẫn phảng phất trong ta mùi vị nụ hôn đầu, màu trắng trong của khu vườn tình yêu thuở ban đầu thiêng liêng đến vậy. Hơn nữa khi khu vườn tình yêu đă bừng nở thành "vườn hoa đỏ" thì tình đă thâm sâu biết đến nhường nào? Màu đỏ ấy có thể dần phai theo dòng chảy của thời gian nhưng "trút màu thành hoa trắng" thì nhất định màu hoa trắng ấy phải là biểu hiện của màu hoa tang "và một vòng hoa trắng rợn người" (Nguyễn Bính).

"Khi người ta không còn yêu nhau
đêm nào trăng cũng lặn
mùa quả nào cũng đắng..."

Sự việc không có gì mới mẻ nếu không nói là quá cũ, tại sao nhà thơ nói đi nói lại làm gì trong suốt hai khổ thơ như thế, có tiềm ẩn một cuộc mai phục nào chăng? Người đọc phải huy động hết khả năng tiếp nhận chiếm lĩnh của hồn thơ mới vỡ lẽ ra một điều: tác giả sử dụng thủ pháp nghịch dị muốn lạ hóa một điều đă quá quen thuộc, từ đó, giúp người đọc hiểu ngược lại vấn đề, thấy được giá trị đích thực của tình yêu vĩnh cửu. Điệp khúc "Khi người ta không còn yêu nhau" thể hiện bản lĩnh nghệ thuật mượn hình nói bóng của một tài nghệ cao tay.

Trong khổ thơ cuối cùng, ba câu đầu là sự kết ý của hai khổ trên nhưng không khép ý mà là rút ra một hàm nghĩa khác: Nỗi hăi sợ của con người "Khi người ta không còn nữa yêu nhau". Quả thật là đáng sợ, màu hoa tang chế, đêm tối mịt mùng, mùa quả nào cũng đắng, sự cô đơn thiếu vắng... dù xung quanh có cả một "thế giới đông người". Điệp khúc lại được tác giả sử dụng nhấn mạnh ở khổ cuối nhưng không hạn hẹp như trong 2 khổ thơ trước. Rõ ràng tác giả rất có ý đồ nghệ thuật khi thêm vào điệp khúc một từ "nữa" - "Khi người ta không còn nữa yêu nhau". Sự đơn lẻ đă được nâng lên tầm khái quát, không chỉ là tình yêu cá nhân với cá nhân mà là tình yêu giữa con người với con người, con người với những điều thiêng liêng khác. Giá trị nhân văn của hình tượng thơ tự nhiên thấm vào mạch cảm xúc của người đọc không cần qua một kênh tiếp dẫn có tính cách giáo huấn nào khác. Chính từ mạch cảm xúc ấy tác giả nêu ra một sự giả định:

Giá như quên được nỗi đau
có lẽ đó là điều tốt hơn điều tốt nhất...

"Quên được nỗi đau" ư? Ai mà không mơ ước điều hạnh phúc ấy, nhưng nào có dễ dàng gì? Nhưng dù sao đi nữa con người cũng phải quên nó thôi. Quên nó, con người mới đủ dũng lực để sống, để cống hiến cho cuộc đời những điều cao đẹp khác. Quên nỗi đau chính là để nhớ trách nhiệm làm người. Nỗi đau giống như liều độc dược nếu biết "dĩ độc trị độc" nỗi đau sẽ thăng hoa thành báu vật. Ly Tao của Khuất Nguyên, Đoạn trường Tân Thanh của Nguyễn Du , thơ Hàn Mặc Tử trở thành kiệt tác chẳng phải là giải mă nỗi đau nhân thế mà thành đó sao!

"Khi người ta không còn yêu nhau" của Phi Tuyết Ba là một sự đan xen giữa tình yêu và triết luận. Tính nhân văn xuyên suốt với các tầng ngữ nghĩa gửi gắm một thông điệp đến con người. Đó là: Hăy yêu đi, yêu chân thành, yêu cháy bỏng, có tình yêu là có tất cả. Nếu "Không còn nữa yêu nhau", "thế giới đông người" này chỉ còn là xứ sở của tang thương chết chóc.
 
Một bài bình thơ hay gửi vào đây tặng bác tóc muối tiêu trong NNN

'Dịu và nhẹ' - hay thơ tình gửi tới người tóc đã muối tiêu
(Tác giả?)

Tạo hóa sinh ra người Nam và người Nữ để yêu nhau. Tình yêu sẽ đồng hành với con người trong suốt cuộc đời, dẫu qua thời gian nó lớn lên và biến đổi. Từ cái háo hức, nồng nàn thuở ban đầu tới sự đằm thắm, sâu nặng, dần dần hai người đã thành tính thành nết của nhau, tình yêu vẫn vậy, chẳng cũ đi bao giờ. Hoa theo mùa và tình yêu theo tuổi...

Ai từng đi qua cái trẻ trung của tình yêu đôi lứa cũng không khỏi ngỡ ngàng trước vị ngọt ngào, ấm áp của tình yêu lúc tuổi già đứng bóng, khi yêu thương đã hóa thành tình nghĩa.

Nguyễn Duy mang cái tâm thế ấy khi ông viết "Dịu và nhẹ" - một bài thơ nghe như tiếng tâm tình gửi tới người tóc đã muối tiêu.

Nhàm tai nghe rối tiếng ầm
dọn tai ta lắng tiếng ầm thế gian
Mùa xuân trở lại dịu dàng
Hoa khe khẽ hé nhẹ nhàng hương bay
nhẹ nhàng lộc cựa nách cây
dịu dàng vương dải tím mây ngang chiều
Nhẹ nhàng tiếng bóng xiêu xiêu
em ngồi chải tóc muối tiêu dịu dàng
má hồng về xứ hồng hoang
tóc rơi mỗi sợi mỗi ngàn lau rơi
Dịu dàng vang tiếng mắt cười
bỏ qua sấm chớp một thời xa xăm
bỏ qua nợ tháng nợ năm
Chợt nghe giọt nước mắt lăn nhẹ nhàng

Câu thơ đầu như một lời tự sự - làm lối mở để đi vào một thế giới dịu và nhẹ mà nhà thơ đã "lắng" được trong "tiếng thầm thế gian". Câu thơ tiếp mở ra một không gian mà thời gian đã tự nhiên chảy trôi vào trong đó: "Mùa xuân trở lại dịu dàng". Thiên nhiên vẫn tuần hoàn, không phải một mùa xuân đầu tiên nhưng đây là cái khoảnh khắc xuân đọng lại để nghe tiếng sự sống tí tách đâm chồi:

Hoa khe khẽ hé nhẹ nhàng hương bay
nhẹ nhàng lộc cựa nách cây
dịu dàng vương dải tím mây ngang chiều

Ba dòng thơ cắt ra từ một câu thơ, lại cứ quấn quýt vào nhau bởi cái lối lặp từ tràn từ dòng trên xuống dòng dưới "nhẹ nhàng hương bay", "nhẹ nhàng lộc cựa". Sự trở lại, cái bắt đầu của một mùa xuân nhu nhú trong những hương và lộc... Sức sống như lây lan, như truyền dẫn, như tỏa vào không gian. Nếu theo cái logic ấy, mạch thơ ấy, thì bỗng dưng, dòng thơ thứ ba như bất ngờ, bởi tự nhiên nó ngưng đọng:

dịu dàng vương dải tím mây ngang chiều

"Vương" chứ không phải là đang trôi. "Tím mây" chứ không phải là mây tím. Câu thơ tám chữ đang xuôi trong âm điệu thanh bằng bất chợt vút cao lên giữa dòng bởi hai thanh trắc và lối đảo từ độc đáo. Cao độ và sức hút của câu thơ xoáy vào một màu tím - như là một nét đậm vẽ ngang qua nền trời. Đoạn thơ trở nên giàu giá trị tạo hình và rất đường nét. Cái dải mây ngang chiều ấy tựa như là khung, là viền của bức tranh mùa xuân tràn đầy hương sắc, nổi bật giữa thiên nhiên.

Nhưng mà cái dáng điệu lững thững, ngưng nghỉ của dải mây màu tím ấy nghe ra như dáng hình tâm trạng, hay một chút vẩn lên trong tâm hồn thi nhân. Thật khó mà cắt nghĩa cho rạch ròi. Song, có lẽ đó là một sự chuyển giao, cái động đã nhường chỗ cho cái tĩnh. Sự rạo rực đã lắng lại trước những gì thâm trầm, thực sự dịu và rất nhẹ.

Nhẹ nhàng tiếng bóng xiêu xiêu
em ngồi chải tóc muối tiêu dịu dàng
má hồng về xứ hồng hoang
tóc rơi mỗi sợi mỗi ngàn lau rơi

Nguyễn Duy thường dùng lục bát. Thơ mà đã lục bát thường không thoát ra ngoài cái giọng ân tình, ân nghĩa, yêu thương. Lục bát là cảm xúc nén vào trong câu lục để rồi tãi ra trong câu bát - nhẹ nhàng như nhịp thở. Thơ không đua chen được với văn xuôi ở sự giàu có các chi tiết, song một khi chi tiết đã đi vào thơ thì đó là những gì đã được chọn lọc nghiệt ngã nhất. "Tiếng bóng xiêu xiêu", "tóc muối tiêu" và "má hồng".

Dân gian sâu sắc và ý nhị vô cùng khi hài hước trong ca dao:

Đàn ông nông nổi giếng khơi
Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu

Thơ yêu chồng và thương chồng nhiều; thơ yêu vợ và thương vợ chỉ thảng hoặc như cầu vồng sau mưa. Âu đấy cũng là cái sự mau nước mắt của đàn bà và cái quý giá của nước mắt đàn ông. Đành là thơ yêu chồng hay như thơ Xuân Quỳnh... thơ yêu vợ cũng nồng nàn và xúc động như thơ Tú Xương... và đến bây giờ là Nguyễn Duy. Trong thơ Nguyễn Duy còn ẩn chứa một nụ cười hóm hỉnh, đáng yêu.

Bài thơ "Vợ ốm", nhà thơ viết:

Thông thường thượng giới rong chơi
Trần gian choang choác sự đời tùy em
...

Cha con chúa chổm loanh quanh
Anh như nguyên thủ tanh bành quốc gia
Việc thiên, việc địa, việc nhà
Một mình anh vãi cả ba linh hồn

Trở lại với buổi chiều mùa xuân, có người chồng ngồi ngắm vợ yêu chải tóc. Còn gì dịu dàng cho bằng hình ảnh người phụ nữ ngồi chải mái tóc dài. Nguyễn Duy đã "lạ hóa" cái cảm nhận dân gian quen thuộc ấy bằng một mái tóc muối tiêu. Suy cho cùng, cái lạ, cái xúc động không phải ở bản thân người phụ nữ mà ở trong cái nhìn của người đàn ông. Tóc xanh là tài sản độc quyền của một thời tuổi trẻ song mái tóc hai màu mới chứng tỏ được lòng thủy chung và tình yêu bền bỉ. Có một dòng chảy lạnh lùng của thời gian trong câu thơ vắt làm 4 dòng ấy. Thời gian đi qua màu hồng đôi má, đổ vào bóng dáng xiêu xiêu và nhuộm màu mái tóc. Mọi thứ đều biến đổi trong thời gian song có một thứ tình cảm vẫn nguyên sơ như những ngày xưa cũ, chỉ có điều giờ trở nên đằm thắm hơn, trong yêu thương có nỗi xót xa, cảm thông và chia sẻ:

tóc rơi mỗi sợi mỗi ngàn lau rơi

Ý thơ tuôn ra theo điểm nhìn của cái tôi trữ tình. Cái nhìn không giấu nổi nỗi bất lực trước thời gian. Sự bất lực là có thực song niềm đau xót cũng rất đỗi chân thành. Yêu lắm và sẻ chia nhiều lắm thì nhà thơ mới có nhiều cung bậc tình cảm chất chứa đến như thế khi nhìn thấy bóng người vợ yêu phía bên kia dốc của cuộc đời. Vẫn còn đắm say với vẻ dịu dàng; vẫn đầy hóm hỉnh, nghịch ngợm với má hồng ký ức và đầy xót xa trước mỗi sợi tóc rơi. Tấm lòng của một người đàn ông bao dung và độ lượng; trìu mến và thủy chung.

Thơ là "từ ngữ được tự do phô ra toàn bộ ruột gan, toàn bộ ý nghĩ và ám thị, như một trái cây chín muồi hoặc như một tên lửa nổ tung giữa bầu trời. Nhà thơ giải thoát cho chất liệu của mình" (Octavio Paz). Có phải vì thế mà thơ nói được nhiều hơn cái ẩn chứa trong lời?

Dịu dàng vang tiếng mắt cười
bỏ qua sấm chớp một thời xa xăm
bỏ qua nợ tháng nợ năm

Dòng thời gian vẫn là sự ngoái lại quá khứ từ điểm nhìn hiện tại song dấu ấn thời gian đã nhạt dần sự khắc nghiệt của nó. Nguyễn Duy là người sáng tạo mạnh mẽ trong cấu trúc câu thơ lục bát. Mỗi câu thơ tách ra làm một đoạn, như là một quãng ngắt. Nó là những nhịp gấp gáp được nối liền bằng những khoảng lặng. Ngưng nghỉ để lắng vào trong cái nhẹ của đất trời và cái dịu của lòng người.

Bài thơ lặp lại 4 lần từ "nhẹ nhàng" và 4 lần từ "dịu dàng". Xét về từ nguyên, "nhẹ nhàng" và "dịu dàng" đều diễn tả sự mềm mại, uyển chuyển. Song đi vào từng sắc thái, "dịu dàng" thiên về hình khối và tĩnh; "nhẹ nhàng" nghiêng về thanh âm và động. Có những câu thơ, nhà thơ chọn từ không thể thay thế như: "nhẹ nhàng lộc cựa nách cây" và "em ngồi chải tóc muối tiêu dịu dàng".

Nhưng cái hay của thơ không giới hạn ở sự chính xác. Có những sai lạc vẫn là thơ. Tại sao lại là "nhẹ nhàng tiếng bóng xiêu xiêu" và "dịu dàng vang tiếng mắt cười". "Bóng" là hình, "bóng xiêu xiêu" lại càng tượng hình. Nhưng "nhẹ nhàng tiếng bóng" thì rõ là âm thanh. Mắt có cười song không có mắt cười thành tiếng để nghe thấy "dịu dàng". Toàn bộ bí ẩn được giải mã bằng nghệ thuật lồng ghép hình và thanh vào trong câu thơ tạo nên sức gợi cảm sâu xa của hình ảnh.

"Bóng xiêu xiêu" là bóng gầy, bóng héo hon thì âu tiếng bóng cũng khẽ khàng và nhẹ nhàng. Hình ảnh bỗng mang theo âm thanh.

Đôi mắt biết cười trước chiều dài tháng năm đầy thử thách, sấm chớp gian lao thì ánh mắt ấy vọng về những âm thanh dịu dàng và yêu thương lắm. Đấy là tiếng được cảm nhận qua sự nhìn của thi nhân.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều có những hình ảnh rất sáng tạo trong bài thơ "Về những trái cây đang chín..." rằng:

Tôi đi qua những cành, tôi đi qua những lá
Ký ức đôi khi mắc lại cô đơn như một trái còi

Những kỷ niệm buồn thực như một thứ quả lạc giữa mùa trái chín, dai dẳng mà không rụng, vướng vào cành, vào lá, vướng vào cả mùa sau. Ký ức trong bài thơ "Dịu và nhẹ" được cởi bỏ một cách nhẹ nhàng hơn:

bỏ qua sấm chớp một thời xa xăm
bỏ qua nợ tháng nợ năm
Chợt nghe giọt nước mắt lăn nhẹ nhàng

Giọt nước mắt đã lăn qua "một thời sấm chớp", qua "nợ tháng nợ năm" bao giờ cũng trĩu nặng. Nhưng có lẽ nó được thấu suốt bởi tấm lòng bao dung, vị tha của người phụ nữ và sự vỗ về đầy yêu thương của người đàn ông nên mới nhẹ nhàng đến vậy. R. Tagore đã có những câu thơ đầy triết lý về niềm vui và nỗi đau:

Niềm vui mỏng mảnh như hạt sương
Nó chết ngay trong lúc nó cười
Nhưng sầu muộn thì vững vàng bền bỉ
Hãy để cho tình yêu sầu muộn
Bừng lên trong đôi mắt của em

Chỉ có sự trải nghiệm mới thấu hiểu "giọt nước mắt lăn nhẹ nhàng" là giọt buồn hay vui. Có lẽ đó là hạnh phúc có ngấm vào cay đắng, có niềm vui xuyên qua nỗi buồn, có tình nghĩa đã khởi nguồn từ tình yêu. Dẫu có thế nào đi nữa thì đó vẫn là giọt nước mắt thanh lọc tâm hồn, đem đến tình yêu nhân ái, bao dung.

Đọc lại câu thơ đầu trong sự liên kết với câu thơ cuối

Nhàm tai nghe rối tiếng ầm
dọn tai ta lắng tiếng thầm thế gian



Chợt nghe giọt nước mắt lăn nhẹ nhàng

người ta sẽ thấy bài thơ là cả một quá trình thức nhận. Từ cái tâm thế chủ động "dọn tai ta lắng tiếng thầm thế gian", qua sự sững sờ trước "tóc rơi mỗi sợi mỗi ngàn lau rơi", cho đến sự sẻ chia ấm áp đến ngỡ ngàng trước tiếng "nước mắt lăn", cấu trúc bài thơ đưa đến những cảm nhận sâu sắc, triết lý về những gì quý giá, vĩnh hằng trong cuộc sống. Trong cái ồ ạt của cuộc sống hiện đại, nếu không biết lắng nghe, người ta dễ vô tình đánh rơi những âm thanh "dịu và nhẹ" nhưng rất đỗi mến thương với con người. Đó là thơ của một người gửi cho một người nhưng cũng là thơ cho cả một thế hệ, cho cả tương lai của những tình yêu vừa chớm nở.

"Dịu và nhẹ" như là một âm thanh - lạc vào giữa những ồn ào, gấp gáp nhưng sẽ còn đọng lại rất đằm và rất sâu trong những tâm hồn biết đón nhận và nâng niu.
 
Nguyễn Công Trứ
(Bách khoa toàn thư mở Wikipedia )

Nguyễn Công Trứ (1778-1858) quê ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là một nhà quân sự, một nhà kinh tế và một nhà thơ lỗi lạc trong lịch sử Việt Nam cận đại.

Ngay từ thuở còn hàn vi ông đã nuôi lý tưởng giúp đời, lập công danh, sự nghiệp:
Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông.

Năm 1820 khi đã 42 tuổi, ông mới đỗ Giải nguyên. Từ đây bắt đầu thời kỳ làm quan đầy sóng gió của ông. Ông hoạt động trong nhiều lĩnh vực từ quân sự, kinh tế tới thi ca.

Cuộc đời ông là những thăng trầm trong sự nghiệp. Ông được thăng thưởng quan tước nhiều lần vì những thành tích, chiến công trong quân sự và kinh tế nhưng cũng nhiều lần bị giáng phạt, nhiều lần giáng liền ba bốn cấp như năm 1841 bị kết án trảm giam hậu rồi lại được tha, năm 1843 còn bị cách tuột làm lính thú v.v.

Năm Tự Đức thứ nhất 1847 ông nghỉ hưu với chức vụ Phủ doãn tỉnh Thừa Thiên.

Do chính sách hà khắc của nhà Nguyễn dưới triều đại Gia Long và Minh Mạng nên đã xảy ra liên tiếp nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân. Nguyễn Công Trứ tuy là quan văn nhưng phải cầm quân, làm tướng, đánh đâu thắng đó: 1825 dẹp Khởi nghĩa Lê Văn Lương, 1827 dẹp Khởi nghĩa Phan Bá Vành, 1833 dẹp Khởi nghĩa Nùng Văn Vân, 1835 dẹp giặc Khách. Đến đời vua Tự Đức thứ 11 (1858), khi Pháp tấn công Đà Nẵng, thì ông đã 80 tuổi nhưng vẫn xin vua cho đi đánh giặc.

Ông có sáng kiến chiêu mộ dân nghèo, đắp đê lấn biển, lập ấp, khai sinh các huyện Kim Sơn (thuộc tỉnh Ninh Bình ngày nay), Tiền Hải (thuộc tỉnh Thái Bình ngày nay) vào những năm cuối thập niên 1820, đề xuất lập nhà học, xã thương ở nông thôn nhằm nâng cao dân trí và lưu thông hàng hóa. Những hoạt động của ông trong lĩnh vực kinh tế được nhân dân các vùng kể trên ghi nhớ. Hiện nay còn rất nhiều từ đường thờ cúng ông ở hai huyện nói trên và quê hương ông.

Nguyễn Công Trứ là người có tài. Là một người của hành động, trải qua nhiều thăng trầm, Nguyễn Công Trứ hiểu sâu sắc nhân tình thế thái đương thời. Ông khinh bỉ và ngán ngẩm nó.

Thế thái nhân tình gớm chết thay
Lạt nồng coi chiếc túi vơi đầy

Hay:
Tiền tài hai chữ son khuyên ngược
Nhân nghĩa đôi đường nước chảy xuôi

Hoặc:
Ra trường danh lợi vinh liền nhục
Vào cuộc trần ai khóc trước cười.

Trong xử thế ông cười nhạo sự thăng giáng, coi làm quan thì cũng như thằng leo dây và không giấu sự ngạo mạn:
Nào nào! Thằng nào sợ thằng nào
Đã sa xuống thấp lại lên cao.

Chán trường với chốn quan trường nhưng ông không chán đời. Ông vốn yêu đời, là người chịu chơi, với ông cái gì cũng có thể đem chơi kể cả tài kinh bang tế thế.
Trời đất cho ta một cái tài
Giắt lưng dành để tháng ngày chơi.

Nguyễn Công Trứ là người đào hoa, mê hát ả đào, ông viết nhiều bài ca trù đa tình. Ngất ngưởng, ngông nghênh, về hưu đi chơi ông không dùng ngựa mà dùng bò. Bảy mươi ba tuổi ông cưới vợ, trả lời cô dâu khi nàng hỏi tuổi:

Năm mươi năm trước, anh hai ba

Ngay lúc chua chát nhìn lại đời mình, ông vẫn là người đầy khí phách:

Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
Giữa trời vách đá cheo leo
Ai mà chịu rét thì trèo với thông

Ghi chú: Cây thông trong cách hiểu Nho-Khổng giáo là người quân tử.

Đời ông đầy giai thoại, giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, bản lĩnh trí tuệ và mang tính bình dân sâu sắc. Có thể nói thơ ông sinh động, giàu triết lý nhân văn nhưng hóm hỉnh, đó là chất thơ có được từ đời sống, lấy đời sống làm cốt lõi.

(Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguyễn_Công_Trứ)

Bài thơ say của Nguyễn Công Trứ

Lúc còn trẻ, Nguyễn Công Trứ là người rất tinh nghịch. Trưa, tối thường hay lảng vảng vào các miếu long thần, thổ địa ở làng để chơi đùa, vẽ bậy. Có lần lại bê cả xôi, chuối, rượu, thịt ở bệ thờ về đánh chén, khiến thủ từ cứ nghi nghi hoặc hoặc mà chẳng dám kêu ca...

Một buổi tối, Nguyễn Công Trứ lẻn vào miếu lấy rượu, thịt xuống nhắm say khướt, rồi lại nâng chén ghé mãi vào miệng long thần: thấy pho tượng cứ ngồi yên không nhúc nhích, ông tức mình vật ngửa tượng ra đổ rượu vào mồm, đánh cho mấy bạt tai rồi mới khật khưởng đi về.

Sáng mai tỉnh dậy, không biết là ông hối hận hay nghĩ thế nào mà lại làm bài thơ yết hậu sau đây, rồi đem ra dán ở miếu để tạ long thần:

Hôm qua trời tối tới chơi đây,
Ðánh phải long thần mấy cẳng tay.
Khi tỉnh thời nào ai có dám...
Say!

Bấy giờ ông từ mới vỡ lẽ, nhưng thấy anh học trò có lời thơ sắc sảo, hài hước, cũng bật cười, chỉ răn đe qua loa chứ không đem ra bắt vạ.


Bạn nào cần xem thơ Nguyễn Công Trứ, xin đọc ở đây:
http://www.vietthings.com/tho/thovanco/nguyencongtru.htm
 
Eve đọc dc bài này trên mạng, dán vào đây để cả nhà nhâm nhi, bài thơ buồn và day dứt quá. Có ai biết về nick thơ này bên Hanoicorner không? Làm sao 1 cô bé 82 mà có thể có những vần thơ sâu lắng tuyệt vời đến thế nhỉ?

Dâu bể

Ta chẳng còn chờ đợi nữa
Tiếng chuông điện thoại của người
Một chút niềm tin nhóm lửa
Đã tắt trong lòng người ơi

Người thêm một lần rong chơi
Lỡ tay ngắt nhành cỏ dại
Ta thêm một lần xa khơi
Lẻ loi con thuyền trôi mãi

Sẽ không còn gì để nhớ
Thế là đi qua đời nhau
Bến bờ nào ta mắc nợ
Bãi bể nào thành nương dâu?

Whiterose82 HNC
 
Hai Sắc Hoa Tigôn

Giáng Nga

Vào khoảng 6/1937, báo "Tiểu Thuyết Thứ Bảy" xuất bản tại Hà Nội đăng truyện ngắn "Hoa ti-gôn" của ký giả Thanh Châu . Theo đó câu chuyện kể lại một mối tình giữa một chàng nghệ sĩ và một thiếu nữ.

Sau đó không lâu, toà soạn nhận được của một người thiếu phụ trạc 20, dáng bé nhỏ, thùy mi, nét mặt u buồn, mang đến một bì thơ dán kín gửi cho chủ bút, trong đó chỉ gọn một bài thơ "Hai sắc hoa ti-gôn", dưới ký tên T.T.Kh. Khi thiếu phụ đi rồi, tòa soạn xem thơ nhận thấy thi phẩm ghi lại cảnh tình đáng thương tâm, nhưng người ta chỉ nhớ lờ mờ hình ảnh thiếu phụ kiạ Đó là lần đầu và cũng là lần cuối người thiếu phụ nầy xuất hiện.

Câu chuyện "Hoa ti-gôn" đã khơi lại mối tình xưa mà người thiếu phụ (T.T.Kh.) đã từng yêu một người và từng trao lời gắn bó dưới dàn hoa ti-gôn. Rồi chàng ra đi; nàng ở lại và nhận một mối tình gượng ép. Nàng đã làm bài thơ để giải toả niềm tâm sự.

Trong "Hai sắc hoa ti-gôn", tác giả thuật lại câu chuyện tình giữa nàng và chàng nghệ sĩ trót đã yêu nhau, song hoàn cảnh trái ngang, nàng phải gạt nước mắt nên duyên cùng người khác -- một ông chồng luống tuổi -- để rồi tan nát tâm tư mỗi khi nhớ lại những kỷ niệm êm đềm của một thời quá khứ.

Sau bài thơ nầy, toà soạn Tiểu Thuyết Thứ Bẩy lại nhận được bằng đường bưu cục 3 tác phẩm khác cũng mang tên T.T.Kh. Đó là các bài "Bài thơ thứ nhất", "Bài thơ đan áo" (riêng đăng ở Phụ nữ thời đàm) và "Bài thơ cuối cùng".

Từ đó về sau, người ta không còn gặp thơ của T.T.Kh nữa và không hiểu tại sao bài "Hai sắc hoa ti-gôn" lại xuất hiện trước "Bài thơ thứ nhất".

Từ lúc T.T. Kh. góp mặt vào làng thi ca tiền chiến, người tă đã tốn biết bao công phu đi tìm hiểu về T.T. Kh. Không ai biết được tên thật cũng như quê quán của nàng. Có người cho nàng là Trần Thi Khánh, một nữ sinh phố Sinh Từ, Hà nội Có kẻ cho cô là người yêu của ký giả Thanh Châu, hay đây chỉ là một nhân vật trong tưởng tượng của ông nhằm lâm ly hoá hay thi vi hoá một mối tình tưởng tượng. Rồi, các thi sĩ Thâm Tâm, Nguyễn Bính và J. Leiba cũng nhận T.T.Kh. là người yêu của mình ! Kể từ đó, dù cho các nhà văn tốn không biết bao giấy mực nhưng họ vẫn không biết gì hơn về nàng.

Về hoa ti-gôn (antigone in French): loại hoa dây đẹp, không thơm, có hình quả tim vỡ làm mấy mảnh, màu trắng và hồng; ở miền Nam VN gọi là hoa nho vì lá giống lá nho. Tác giả mượn ý màu trắng là màu trinh bạch, ngây thơ khi nàng còn nhỏ dại, và hồng là màu mà nàng phải trải qua những sự đau khổ trong tình trường khi con tim nàng tan vỡ...



Hai sắc hoa ti-gôn

Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn,
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc,
Tôi chờ người đến với yêu đương.

Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Dải đường xa vút bóng chiều phong,
Và phương trời thă?m mờ sương cát,
Tay vít dây hoa trắng cạnh lòng.

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi,
Thở dài trong lúc thấy tôi vui,
Bảo rằng : "Hoa, dáng như tim vỡ,
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi !"

Thuở đó nào tôi đã hiểu gì
Cánh hoa tan tác của sinh ly,
Cho nên cười đáp: "Màu hoa trắng
Là chút lòng trong chẳng biến suy".

Đâu biết lần đi một lỡ làng,
Dưới trời đau khổ chết yêu đương.
Người xa xăm quá ! - Tôi buồn lắm,
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường...

Từ đấy, thu rồi, thu lại thu,
Lòng tôi còn giá đến bao giờ?
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ...
Người ấy, cho nên vẫn hững hờ.

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời,
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,
Mà từng thu chêt, từng thu chết,
Vẫn giấu trong tim bóng "một người".

Buồn quá hôm nay xem tiểu thuyết
Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
Như hồng tựa trái tim tan vỡ.
Và đỏ như màu máu thắm pha!

Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
Một mùa thu trước rất xa xôi...
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã,
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi!

Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ,
Chiều thu, hoa đỏ rụng chiều thu
Gió về lạnh lẽo chân mây vắng,
Người ấy ngang sông đứng ngóng đò.

Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng,
Trời ơi ! Người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng? (*)

Tiểu thuyết thứ bảy, số 179, 30/10/1937

(*) Để trả lời 4 câu nầy của T.T. Kh., nhà thơ Hồ Dzếnh có làm 4 câu thơ sau đây đăng trong Trung Bắc Tân Văn :

Rồi một ngày mai em lấy chồng,
Anh về lấy vợ thế là xong,
Vợ anh không giống em là mấy,
Anh lấy cho anh đỡ lạnh lùng.



Bài thơ thứ nhất

Thuở trước hồn tôi phơi phới quá,
Lòng thơ nguyên vẹn một làn hương...
Nhưng mà nghệ sĩ từ đâu lại,
Êm ái trao tôi một vết thương.

Tai ác ngờ đâu gió lạ qua,
Làm kinh giấc mộng những ngày hoa,
Thổi tan tâm điệu du dương trước
Và tiễn Người đi bến cát xa.

Ở lại vườn Thanh có một mình,
Tôi yêu gió rụng lúc tàn canh;
Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo,
Yêu bóng chim xa, nắng lướt mành.

Và một ngày kia tôi phải yêu
Cả chồng tôi nữa lúc đi theo
Những cô áo đỏ sang nhà khác,
- Gió hỡi ! làm sao lạnh rất nhiều ?

Từ đấy không mong, không dám hẹn
Một lần gặp nữa dưới trăng nghiêm,
Nhưng tôi vẫn chắc nơi trời lạ,
Người ấy ghi lòng: "Vẫn nhớ em!"

Đang lúc lòng tôi muốn tạm yên,
Bỗng ai mang lại cánh hoa tim
Cho tôi ép nốt dòng dư lệ
Rỏ xuống thành thi khóc chút duyên?

Đẹp gì một mảnh lòng tan vỡ
Đã bọc hoa tàn dấu xác xơ!
Tóc úa giết dần đời thiếu phụ ...
Thì ai trông ngóng, chả nên chờ!

Viết đoạn thơ đầu lo ngại quá
Vì tôi còn nhớ hẹn nhau xưa :
- "Cố quên đi nhé, câm mà nín
Đừng thở than bằng những giọng thơ!"

Tôi run sợ viết; lặng im nghe
Tiếng lá thu khô siết mặt hè
Như tiếng chân người len lén đến.
- Song đời nào dám gặp ai về!

Tuy thế, tôi tin vẫn có người
Thiết tha theo đuổi nữa, than ôi
Biết đâu...tôi : một tâm hồn héo,
Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi!

Tiểu thuyết thứ bẩy, số 182, 20/11/1937



Đan áo cho chồng

"Chi ơi! Nếu chị đã yêu
Đã từng lỡ hát ít nhiều đau thương,
Đã xa hẳn quãng đường hương,
Đã đem lòng gởi gió sương mịt mùng.
Biết chăng chi ? Mỗi mùa đông,
Đáng thương những kẻ có chồng như em,
Vẫn còn thấy lạnh trong tim,
Đan đi đan lại áo len cho chồng.
Như con chim hót trong lồng,
Hạt mưa nó rụng bên song bơ thờ.
Tháng ngày nổi tiếng tiêu sơ,
Than ôi! Gió đã sang bờ ly tan...

Tháng ngày miễn cưỡng em đan,
Kéo dài một chiếc áo len cho chồng.
Như con chim nhốt trong lồng,
Tháng ngày mong đợi ánh hồng năm nao!
Ngoài trời mưa gió xôn xao,
Ai đem khóa chết chim vào lồng nghiêm?
Ai đem lễ giáo giam em?
Sống hờ trọn kiếp trong duyên trái đời..
Lòng em khổ lắm chi ơi !
Trong bao tủi cực với lời mỉa mai
Quang cảnh lạ, tháng năm dài,
Đêm đêm nghĩ tới ngày mai giật mình!"

Phụ nữ thời đàm



Bài thơ cuối cùng


Anh hỡi tháng ngày xa quá nhỉ?
Một mùa thu cũ, một lòng đau...
Ba năm ví biết anh còn nhớ,
Em đã câm lời, có nói đâu!

Đã lỡ, thôi rồi ! chuyện biệt ly,
Càng khơi càng thấy lụy từng khi
Trách ai mang cánh "ti-gôn" ấy,
Mà viết tình em, được ích gì?

Chỉ có ba người đã đọc riêng,
Bài thơ "đan áo" của chồng em.
Bài thơ "đan áo" nay rao bán,
Cho khắp người đời thóc mách xem...

Là giết đời nhau đấy, biết không?
...Dưới dàn hoa máu tiếng mưa rung,
Giận anh, em viết dòng dư lệ,
Là chút dư hương : điệu cuối cùng!

Từ đây, anh hãy bán thơ anh,
Còn để yên tôi với một mình,
Những cánh hoa lòng, hừ! đã ghét,
Thì đem mà đổi lấy hư vinh.

Ngang trái đời hoa đã úa rồi,
Từng mùa gió lạnh sắc hương rơi..
Buồng nghiêm thờ thẫn hồn eo hẹp,
Đi nhớ người không muốn nhớ lời!

Tôi oán hờn anh, mỗi phút giây,
Tôi run sợ viết, bởi rồi đây
Nếu không yên được thì tôi ...chết
Đêm hỡi! Làm sao tối thế nầy ?

Năm lại năm qua cứ muốn yên
Mà phương ngoài gió chẳng làm quên;
Và người vỡ lỡ duyên thầm kín,
Lại chính là anh, anh của em!

Tôi biết làm sao được hỡi trời?
Giận anh, không nỡ! Nhớ không thôi!
Mưa buồn, mưa hắt, trong lòng ướt...
Sợ quá đi, anh..."có một người"!...

Tiểu thuyết thứ bảy, số 217, 23/7/1938


Nguồn: http://www.honque.com/HQ002/bKhao_gNga002a.htm
 
HỠI NGƯỜI VỪA LẠ VỪA QUEN
(Thơ tặng vợ thay quà mừng sinh nhật)
Vũ Quang Trung
(Vũ Hồng Quang)

Chẳng còn xuân sắc như xưa
Quỹ thời gian đã qua trưa sang chiều
Tóc huyền đã điểm muối tiêu
Mắt bồ câu đã kẻ nhiều chân chim

Giật mình tỉnh giấc nửa đêm
Xót xa nghe nặng trái tim bồi hồi

Những gì em đã cho tôi
Là tình yêu với một thời trẻ trung
Là hơi thở ấm đêm đông
Là làn da mát cả trong trưa hè

Tôi thì nửa tỉnh nửa mê
Lúc lên tiên giới lúc về trần gian
Cù lần chẳng thể làm quan
Vụng về chẳng thể lo toan làm giàu
Bao nhiêu sợi tóc trên đầu
Bấy nhiêu sợi bạc đổi màu sang em

Hỡi ngườii vừa lạ vừa quen
Vừa xa xôi lại gần bên tôi hoài
Để mà gánh nặng hai vai
Để buồn vui những ngày dài có nhau ….

Saigon 4/3/2000



GỬI SÔNG.
(Bài thơ từ biệt chức quyền khi về nghỉ hưu)

Cho tôi gửi một lời chào
Bến xưa sông ấy lẽ nào quên nhau
Bờ nghiêng nghiêng cát trắng phau
Thuyền nghiêng nghiêng nép bụi lau ướt đầm

Tiếng mưa như tiếng gọi thầm
Tiếng sông trôi giữa lặng câm bãi dài

Chảy từ đâu tới sông ơi
Mà sao dào dạt giữa đời trầm luân
Mà sao lên thác xuống ghềnh
Mà sao thuyền vẫn nhẹ tênh giữa giòng

Dặm dài mấy khúc đục trong
Đa đoan mấy bến nặng lòng sông trôi
Một lần …chỉ một lần thôi
Xin cho trả nợ sông rồi hãy xuôi ….

Saigon 6/2002
 
Phanhoamay nói:
HỠI NGƯỜI VỪA LẠ VỪA QUEN
(Thơ tặng vợ thay quà mừng sinh nhật)
Vũ Quang Trung
(Vũ Hoàng Quang)

Chẳng còn xuân sắc như xưa
Quỹ thời gian đã qua trưa sang chiều
Tóc huyền đã điểm muối tiêu
Mắt bồ câu đã kẻ nhiều chân chim

Giật mình tỉnh giấc nửa đêm
Xót xa nghe nặng trái tim bồi hồi

Những gì em đã cho tôi
Là tình yêu với một thời trẻ trung
Là hơi thở ấm đêm đông
Là làn da mát cả trong trưa hè

Tôi thì nửa tỉnh nửa mê
Lúc lên tiên giới lúc về trần gian
Cù lần chẳng thể làm quan
Vụng về chẳng thể lo toan làm giàu
Bao nhiêu sợi tóc trên đầu
Bấy nhiêu sợi bạc đổi màu sang em

Hỡi ngườii vừa lạ vừa quen
Vừa xa xôi lại gần bên tôi hoài
Để mà gánh nặng hai vai
Để buồn vui những ngày dài có nhau ….

Saigon 4/3/2000



GỬI SÔNG.
(Bài thơ từ biệt chức quyền khi về nghỉ hưu)

Cho tôi gửi một lời chào
Bến xưa sông ấy lẽ nào quên nhau
Bờ nghiêng nghiêng cát trắng phau
Thuyền nghiêng nghiêng nép bụi lau ướt đầm

Tiếng mưa như tiếng gọi thầm
Tiếng sông trôi giữa lặng câm bãi dài

Chảy từ đâu tới sông ơi
Mà sao dào dạt giữa đời trầm luân
Mà sao lên thác xuống ghềnh
Mà sao thuyền vẫn nhẹ tênh giữa giòng

Dặm dài mấy khúc đục trong
Đa đoan mấy bến nặng lòng sông trôi
Một lần …chỉ một lần thôi
Xin cho trả nợ xong rồi hãy xuôi ….

Saigon 6/2002

Nuocnga.net thật sự mới mẻ đối với tôi. Anh bạn thân từ HN báo tin cho biết trên trang Web này có xuất hiện 2 bài thơ của tôi ( Bài “Hỡi người vừa lạ vừa quen” và “ Gửi sông”. Và tôi đã tìm đến với nuocnga.net trước hết vì lý do này. Xin nói ngay: tôi không phải là người du học ở Liên Xô, tuy nhiên đã có vài lần sang LX tu nghiệp. Đương nhiên tôi yêu nước Nga, yêu tất cả các quốc gia trong Liên Bang Xô Viết vĩ đại . Những kỉ niệm về LX luôn tươi mới trong tôi. Vì vậy tôi coi nuocnga.net như 1 người bạn tâm tình của mình. Tôi cảm ơn người đã đọc , đồng cảm và gửi 2 bài thơ của tôi lên mạng. Chỉ xin đính chính 1 chữ trong bài “Gửi sông”: ở câu thơ cuối cùng xin sửa chữ “xong” bằng chữ “sông” – “Xin cho trả nợ sông rồi hãy xuôi” và đính chính tác giả 2 bài thơ trên có bút danh là Vũ Hồng Quang ( không phải Hoàng Quang).

Trên đây là bài của bác Hồng Quang, do gửi bằng font vni nên admin đã mạn phép bác chuyển mã sang unicode và lại post lên để mọi người cùng đọc cho tiện. Những gì cần sửa trong hai bài thơ admin xin để phần bác Phan. Chào mừng bác quangtrungvu đã đến với gia đình NNN, hy vọng là gia đình NNN sẽ đem cho bác được một vài niềm vui nho nhỏ và mong bác có nhiều đóng góp cho ngôi nhà chung càng thêm giàu có.

Kính!
 
Kính gửi anh Vũ Quang Trung,

Trước hết xin anh và bạn đọc thứ lỗi vì có một vài sai sót khi tôi post hai bài thơ của anh mà tôi rất thích lên trang nuocnga.net.

Thơ của anh tôi nhận qua mail từ anh NNH, người mà tôi rất kính trọng, một bản được viết không có dấu tiếng Việt, một bản có dấu lại dùng font VNI, tôi không sao đọc được. Do đó tôi phải tự bỏ dấu, có một hai chỗ tôi suy luận sai nên đã làm biến dạng nguyên tác, thật đáng tiếc! (Ví dụ font VNI viết Vũ Hồng Quang khi sang font Unicode thì hiện lên là Vũ Hoàng Quang!)

Tôi cho rằng cái lỗi của tôi, theo một cách hiểu nào đó, là cũng dễ thương đấy chứ? Nếu không có vài cái lỗi đó, làm sao một người lớn tuổi và đáng kính như Anh lại biết đến và tham gia vào nuocnga.net?

Tôi đã chỉnh sửa hai điểm cần sửa. Cảm ơn anh đã kịp thời trao đổi.

Thân kính!
PHM.
 
Hồng nhan lấy cái thất tình làm vui

Em gái

Em đầy ngộ nhận như tôi
Cũng yêu chí chết cái người mình yêu
Cũng tìm những lối phong rêu
Để rồi bước trật bước trèo uổng công

Mắt thì thăm thẳm mùa đông
Trái tim mùa hạ, tấm lòng mùa thu
Mùa xuân ở phía sa mù
Mà băng tuyết… đến bao giờ cho tan?

Gặp em cơ nhỡ cưu mang
Em đâu biết đến lỡ làng về sau
Em đương lấy sóng làm cầu
Khơi xa làm bến, đáy sâu làm thuyền

Lấy khao khát để làm yên
Lấy duyên làm phúc lấy tiền làm khinh
Rồi ra em giống chị mình
Lấy bấy nhiêu cái thất tình làm vui

ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN

Có ai thất tình mà lại vui bao giờ! Ngoa dụ đấy! Vui là vui gượng kẻo mà. Em gái là phiên bản của chị, của kiếp hồng nhan mong manh, không yêu thời thôi chứ đã yêu là yêu chí chết cái người mình yêu nhưng như vậy thì làm sao còn đủ tỉnh táo mà không đầy ngộ nhận, cớ gì em, cớ gì chị.

Ai tìm những lối phong rêu làm gì, phong rêu tự nó đến nên em mới bước trật bước trèo. Nhưng không có uổng công đâu, bởi uổng công thì làm sao chị mình lại kết tứ lấy bao nhiêu cái thất tình làm vui cho được… Có vui gượng đi nữa cũng là vui? Xem nhà thơ giải thích sự uổng công yêu thế nào?

Mắt thì thăm thẳm mùa đông
Trái tim mùa hạ tấm lòng mùa thu
Mùa xuân ở phía sa mù
Mà băng tuyết… đến bao giờ cho tan?

Em gái của chị có ba mùa: giọt sương trên mí mắt thăm thẳm của mùa đông giá lạnh, trái tim rực cháy ngọn lửa yêu đương của mùa hạ và tấm lòng đau đáu thuỷ chung của mùa thu đợi chờ. Chỉ có mùa xuân của đời em còn ở đâu phía sa mù xa lắc xa lơ. Câu hỏi tu từ cuối đoạn hai vút lên thảng thốt: mà băng tuyết đến bao giờ cho tan?

Chị của em là người nếm cảnh ai có qua cầu. Em còn ngây thơ trong trắng quá, biết chi đến cái lỡ làng về sau. Em gái bị cái vị ngọt tình yêu làm lú lẫn:

Em đương lấy sóng làm cầu
Khơi xa làm bến, đáy sâu làm thuyền

Lấy sóng mà làm cầu là một sự dấn thân với tình yêu bạo liệt bởi tất cả sóng trên đời này đều dậy để rồi tan. Bình địa đã nổi phong ba rồi thì không làm sao còn bình địa được nữa nếu không hứng chịu tận cùng tan nát. Em còn bạo liệt hơn khi dám lấy khơi xa làm bến. Khơi xa thì cũng là sóng, không có sóng thì làm gì có khơi, khơi xa nữa thì không nói cũng biết nó rốn bão đến mức nào! Chính vì em chìm ngập trong đáy sâu con thuyền ảo ảnh ấy nên lấy khao khát để làm yên, làm chất liệu tự sinh nuôi sống hồn mình, tự an ủi mình có cái để khát khao. Còn hơn chán vạn người suốt đời không có cả cái để mà khao khát đó sao!

Cuối cùng tác giả nhắc lại điều đã khẳng định ngay từ đầu, có khác hơn là được nâng lên về chất:

Rồi ra em giống chị mình
Lấy bấy nhiêu cái thất tình làm vui

Ngoa dụ thì hẳn rồi, song nhìn cho rộng suy cho kỹ thì dường như cũng có một chút thật thật. Em cũng như chị bước trật bước trèo cả đời con gái để không bao giờ với tới được mùa xuân. Nhưng vui là có thất tình chị mới có thơ, giống chị rồi em cũng ra thơ thôi. Nếu được mùa yêu thì chỉ có…cái khác chứ cung bậc cảm xúc trong thơ khó mà diệu vợi. Mất mà lại được âu đó cũng là chuyện Tái ông mất ngựa của mỗi một đời người.

Rằng hồng nhan tự nghìn xưa, mối đồng cảm số phận đã được Hồng Hà nữ sĩ, Bà chúa thơ Nôm than oán đầy trời song ở Đoàn Thị Lam Luyến có cách nói mới mẻ nhân văn hơn. Người phụ nữ bị tình phụ không bi quan chán nản, sướt mướt mà vẫn tràn đầy nghị lực vượt qua nỗi đau xé lòng để trào lộng một tiếng: Lấy bấy nhiêu cái thất tình làm vui...

NGUYỄN HÀN CHUNG
 
Các chị Eve và ấy ơi , theo ý em nên bám chắc vào chủ đề mà mạch bài này đưa ra"Mỗi bài thơ - một cảm nhận".Khi "cảm " bài thơ nào thì phải nêu ra những lý do lý trấu khiến mình tâm đắc hoặc có nhận xét chứ không chỉ viết ra đây mỗi lời của bài thơ xong để đấy cho ai muốn hiểu thế nào thì hiểu. Lại theo em, nếu thế ta chỉ việc vào mạch bài "Thơ ... hợp lòng tôi " của chị Đinh post bài thơ mình khoái là " ổn áp" rồi.
Em có vài đường cơ bản thế , các chị nhỉ.
Kính chưa thân !
 
[color=green:4d6ec5709b][size=18:4d6ec5709b]Nhầm lẫn dịu êm[/size][/color]

[color=blue:4d6ec5709b]Và anh đã không thể nhận ra em
Điều không hoàn thiện này bỗng trở thành giá trị
Bởi vì em đã thoát cơn mộng mị
Sống với điều hoàn thiện và thực sự của riêng mình

Cảm ơn anh với bản nhạc thanh bình
Gieo lòng em những du dương của thời mới lớn
Dẫu thời gian tâm hồn hoài mơn mởn
Tự hào em có một tuổi xanh đẹp với những cung đàn

Em đã yêu những âm điệu ngút ngàn
Mà cứ ngỡ trái tim dành cho người đang lướt phím
Một buổi chiều ngọt ngào trời đang tím
Cảm ơn anh đã không nhận ra em với điều nhầm lẫn êm dịu này!

(ĐBT)[/color]
 
[color=blue:8b606eb358]TÔI MANG HỒ GƯƠM ĐI

Sao Hồ Gươm biết tôi chia xa?
Mà run cho mọi bóng cây nhòa
Mà im im hết nghìn tăm cá
Mà thở chiều lên khắp cỏ hoa ?

Gó níu hoàng hôn xuống đáy tranh
Lá rụng, trời xao động cổ thành
Đổi dòng, sông gửi hồn ngưng đọng
Mượn hồ trả kiếm lại trời xanh

Tôi muốn mang hồ đi trú đông
Mà không khiêng vác được sông Hồng
Mà không gói nổi heo may rét
Đành để hồ cho gió bấc trông !

Sao Hồ Gươm biết tôi ra đây ?
Mà thương ôm bóng kẻ lưu đầy
Mà lau đôi mắt tôi bằng sóng
Mà cả trời kia xuống hết cây …
Trần Mạnh Hảo
Hà Nội 1998

TÔI MUỐN MANG HỒ GƯƠM ĐI
Thơ: trần Mạnh Hảo
Nhạc: Phú Quang

Sao hồ Gươm biết tôi chia xa ?
Mà run run cho từng bóng cây nhòa,
Mà im im lặn hết ngàn tăm cá,
Mà thở chiều lên khắp cỏ hoa.

Gió níu hoàng hôn xuống tận giấc mơ,
Cổ Thành xưa, ngơ ngẩn lá thu mưa.
Nhờ dòng sông gửi chút tình xa vắng,
mượn Hồ Gươm gọi nắng từ trời xanh.

Tôi muốn mang Hồ Gươm đi trú Đông,
Nhưng làm sao, mang nổi được sông Hồng.
Làm sao gói nổi heo may rét,
Thôi đành để hồ cho gió bấc trông.

Sao Hồ Gươm biết tôi ra đây ?
Mà trùm yêu thương lên bóng vai gầy,
Mà lau mắt tôi bằng ngàn con sóng,
Mà thả trời xanh xuống trên từng nhánh cây.[/color]

Bài thơ này do Trần Mạnh Hảo làm năm 1998 khi ông rời miền Bắc vào Nam sinh sống. Ông viết bài này khi chia xa Hà nội không rõ vì bắt buộc hay còn vì lý do nào nữa nên tôi nghe như tiếng thơ trong bài này của Ông thấy hơi “ bi ai ” nhất là ở khổ thơ cuối cùng. Nỗi lòng của một người khi phải chia tay tạm biệt với những gì mình đã từng gắn bó rất tha thiết diết da. Ông đã gửi cả nỗi lòng mình dựa vào hình ảnh hồ Gươm gợn sóng một chiều đông tê tái, muốn thu nhỏ những hình ảnh yêu thương gần gũi ấy vào trong trí tưởng của mình làm hành trang vào miền Nam ngàn trùng xa cách.
Nhưng khi nghe bài hát này do nhạc sỹ Phú Quang phổ nhạc cho bài thơ Tôi muốn mang Hồ Gươm đi, Tôi cảm nhận rất rõ nỗi lòng của một người Hà nội thật sự hơn thân thiết hơn vì sao ư ? vì chính Phú Quang – người con của đất Hà thành – cũng tạm chia tay Hà nội, nơi [color=blue:8b606eb358]ngõ nhỏ phố nhỏ nhà tôi ở đó [/color].. Trong lời bài hát có chỉnh lý mấy chỗ so với nguyên bản thơ của Trần Mạnh Hảo thật hay làm sao. Đấy là khi Phú Quang rất rất muốn “Tôi muốn mang hồ Gươm đi” để ông được

[color=blue:8b606eb358]Gió níu hoàng hôn xuống tận giấc mơ,
Cổ Thành xưa, ngơ ngẩn lá thu mưa.
Nhờ dòng sông gửi chút tình xa vắng,
mượn Hồ Gươm gọi nắng từ trời xanh
[/color]

dẫu biết là lực bất tòng tâm, dẫu biết mãi mãi chỉ là mơ uớc thôi

[color=blue:8b606eb358]Tôi muốn mang Hồ Gươm đi trú Đông,
Nhưng làm sao, mang nổi được sông Hồng.
Làm sao gói nổi heo may rét,
Thôi đành để hồ cho gió bấc trông.
[/color]

Câu cuối bài hát, Phú Quang đã thay lời thơ một chút nhưng chính sự thay đổi ấy đã làm cho biết bao con tim của khán thính giả đã để mặc tâm hồn mình ào lên từng đợt sóng cồn cào nhớ …

[color=blue:8b606eb358]Sao Hồ Gươm biết tôi ra đây ?
Mà trùm yêu thương lên bóng vai gầy,
Mà lau mắt tôi bằng ngàn con sóng,
Mà thả trời xanh xuống trên từng nhánh cây.
[/color]

Khi nghe đến đoạn này, ai đã từng ở hoàn cảnh ấy chắc sẽ không khỏi
“ Mắt cay vì khói lam chiều
Mặn môi vì chỉ những điều giản đơn”
Riêng câu thơ “ Sao hồ Gươm biết tôi chia xa?” ở khổ thơ đầu và câu“Sao hồ Gươm biết tôi ra đây “ở khổ thơ cuối vẫn giữ nguyên nghe thật dịu dàng thân thiết yêu thương như lời của ngừơi thân yêu hỏi nhau vậy.
Cả bài thơ và bài hát đều có cái hay riêng. Nhờ có bài thơ của nỗi lòng Trần Mạnh Hảo mà nhạc sỹ Phú Quang đã bắt gặp lòng mình trong đấy để cho ông một lần nữa cống hiến cho mọi người ưa thích bài “ Tôi mang hồ Gươm đi”những cung bậc nhớ và yêu Hà nội da diết, những giai điệu nhạc trong thơ thơ hoà với nhạc cháy bỏng khát khao uớc mong “ Tôi muốn mang hồ Gươm đi “ của người con Hà nội.

Tôi không có ý làm phép so sánh mà chỉ là những cảm nhận thật lòng; những cảm xúc chợt đến khi đọc, nghe bài thơ này trong buổi tối cuối tuần một ngày tháng tư đầy gió từ sông Sài gòn thổi về, …
16.4.06
 
Back
Top