Huyền thoại về sự "tăng trưởng"
Gần đây tại các nước Phương Tây, giới Tư bản đua nhau đem tiền bạc sang đầu tư tại Trung Quốc (TQ). Các xí nghiệp nối tiếp nhau sa thải công nhân hàng loạt tại Âu Châu, di chuyển sang TQ để tiếp tục sản xuất hàng hóa. Báo chí truyền thông Phuơng Tây cũng phụ họa, trầm trồ đề cao môi trường kinh tế của TQ, coi như “thiên đường” cho những cơ hội làm ăn. Đôi khi họ còn vớt vát, ngụy biện rằng phát triển kinh tế sẽ làm “thăng tiến Dân chủ” tại TQ!
Qua dư luận Phương Tây, người ta thấy tất cả như đã dấy lên một phong trào, như một cái “mốt”, ca tụng sự tăng trưởng “vượt bực” của TQ. Thậm chí có khi còn đề cao «mô hình TQ», coi như kiểu mẫu cho một đường lối phát triển mới! Họ tiên đoán chẳng mấy chốc TQ sẽ là một siêu cường, vượt xa cả Mỹ, Nhật và Âu Châu.
Tuy nhiên, vừa qua đã có những tiếng nói cất lên, phản bác lại các lập luận này, đặt nhiều nghi vấn về sự «thịnh vượng» của TQ. Đó là một số học giả, nhà báo độc lập tại Âu Châu, đã nghiên cứu tìm hiểu, và có kinh nghiệm sống lâu năm tại Trung Hoa. Họ phác họa một bức tranh tương phản, hoàn toàn chẳng lạc quan tốt đẹp. Qua nhiều bài viết, họ bật mí nhiều điều về cái huyền thoại «tăng trưởng» của TQ. Theo họ, ngay con số tăng trưởng kỳ diệu 8-9 % hàng năm, được Phương Tây nhắm mắt tin theo, cũng cần xét lại. Bởi vì chủ yếu, nó dựa theo các báo cáo, thống kê, chẳng đáng tin cậy bao nhiêu của nhà cầm quyền Bắc Kinh. Vả lại, nếu chỉ nhìn theo khía cạnh người dân Trung Hoa, từ chỗ không đủ ăn hai bữa, nay đã có chiếc xe đạp, xe máy thì họa may con số tăng trưởng 8-9% này mới có phần nào gần sự thực.
Mới đây, qua những bài viết của các tác giả tên tuổi như G. Sorman, Ph. Cohen, P. Haski …, một số sự thật đã được phơi bày. Với dân số Trung Hoa hiện nay là gần 1 tỷ 300 triệu, có khoảng 200 triệu người ở các đô thị đã có mức sống tương đối cải thiện, do sự phát triển kinh tế. Số 200 triệu người bắt đầu được sung túc này, là cái tủ kính bày hàng, trung tâm quảng cáo cho chế độ. Số 200 triệu người may mắn này, đã làm lóa mắt các khách du lịch, gây một ấn tượng lệch lạc về sự thịnh vượng của TQ, và là đề tài cho các bài báo ca ngợi ở Phương Tây. Ngoài ra, không ai biết đến còn 1 tỷ người dân quê nghèo khổ, bị bỏ quên, bị bạc đãi, tại các vùng đồng ruộng bao la hẻo lánh của Trung Quốc.Trong số một tỷ dân nghèo này, có 200 triệu kéo về các thành phố, mệnh danh là các «mingong», danh từ chỉ các “di dân lao động”. Họ sống lay lắt quanh các đô thị, chen chúc trong các khu nhà ổ chuột. Số người này, trên nguyên tắc, là những người “vô hình”, vì không hiện diện trong bất cứ báo cáo, thống kê nào của nhà nước. Họ không được phép cư trú ở thành phố vì không có “hộ khẩu”, nhưng được chính quyền “làm lơ”. Để đổi lại, họ không được khiếu nại, không được đòi hỏi quyền lợi gì. Như một tầng lớp nô lệ, sống bên lề xã hội, họ sẵn sàng bán sức lao động rẻ mạt trong các nhà máy. Cũng chính số 200 triệu “mingong” này đã là động lực, là đầu tàu kéo bộ máy kinh tế của TQ hiện nay. Họ là đầu mối sản xuất ra những mặt hàng rẻ mạt mà không một nước nào cạnh tranh nổi, đang được tung ra trên khắp các thị trường thế giới.
Những “mingong” này thiếu thốn đủ mọi thứ, là lớp người bị Tư Bản Đỏ và chính quyền bóc lột tàn bạo nhất. Bởi vì lợi nhuận cho Tư Bản đỏ và “tỷ số tăng trưởng” để chính quyền báo cáo, tỷ lệ thuận với cường độ của sự bóc lột. Điều mỉa mai là nếu có sáng kiến nào về các chi phí nhằm cải thiện đời sống của 200 triệu di dân lao động này, thì chính quyền không thể chấp nhận. Bởi vì ngay trên lý thuyết, nó đã đi ngược với cái nguyên tắc, cái “cẩm nang phát triển”, được nhà cầm quyền đề ra, là phải luôn luôn giữ giá thành lao động thật rẻ, để cạnh tranh với quốc tế.
Bộ máy cai trị Bắc Kinh còn được sự tiếp sức to lớn bằng tiền bạc của Tư bản nước ngoài đổ vào, đang tận lực khai thác triệt để và rất hữu hiệu, khối nhân lực 200 triệu “mingong” này.Tiền lợi nhuận đem lại, không bị “tiêu phí” trong việc cải thiện đời sống cho một tỷ dân quê nghèo đói, nên đã rất “thừa thãi” để tập trung vào các nhu cầu của bộ máy nhà nước. Sau khi đã thỏa mãn các túi tham nhũng trong chính quyền, nó sẽ được tiêu dùng cho việc tăng cường hệ thống công an bảo vệ chế độ, vào việc phát triển quân đội, chế tạo vũ khí, phóng người lên không gian, đưa TQ lên địa vị “siêu cuờng”, hung hăng đầy tham vọng mà Tây Phương đã tiên đoán khá đúng.
Người ta thấy rõ vì sao có nhận xét rằng Tư Bản Phương Tây đang bán sợi dây thòng lọng cho TQ. Tuy nhiên cho đến nay, nền kinh tế TQ mới chỉ đơn thuần dựa trên yếu tố nhân công rẻ mạt. Tất cả chỉ là «xưởng đặt hàng» của Thế giới. Nó chưa phải là nền kinh tế vững chắc của sự sáng tạo. Chưa có của cải vật chất làm ra do trí tuệ, do chất xám, mà chỉ là sự cóp nhặt bắt chước, hoặc chờ đợi gia công đặt hàng. Hàng hóa TQ tràn ngập thế giới, nhưng chủ yếu chỉ là những mặt hàng tiêu dùng thiết yếu bình thường, như quần áo, giày dép. Không có những mặt hàng kỹ thuật vào loại trung bình chứ chưa nói tới trình độ cao. Một con số nhỏ để so sánh: thu nhập bình quân đầu người/năm : Đài Loan: hơn 12.000 USD, gấp 10 lần TQ: dưới 1.200 USD. (Theo tài liệu Atlas économique 2005, tuần san Nouvel Observateur, Paris)
So sánh TQ với sự phát triển trước đây của các “con Rồng Châu Á”, như Nhật Bản, Đại Hàn, Đài Loan, nguời ta thấy cả một sự khác biệt cơ bản về chất lượng. Các nước này gây dựng được một nền kinh tế thịnh vượng, vững chắc, nhờ sự phát triển lành mạnh, song song hài hòa với sự thực thi Dân Chủ, với sự cải thiện đời sống của mọi tầng lớp nhân dân. Điều này, Bắc Kinh không thực hiện nổi, hoặc lơ là, không đếm xỉa đến những nhu cầu sơ đẳng nhất của người dân, như vệ sinh y tế, chủng ngừa... Người ta chưa quên những vụ bê bối gần đây, đã bị báo chí quốc tế phanh phui. Như vụ chính quyền ém nhẹm khi bệnh viêm phổi SARS bột phát. Như vụ dân nghèo phải bán máu kiếm ăn, khiến bệnh AIDS lan tràn. Các nhà phân tích nhận định rằng nền kinh tế Trung Cộng chỉ là sự “phồn vinh giả tạo”, sẽ bấp bênh, không vững vàng. Nó được thổi phồng lên như “ trái bong bóng” và chưa biết sẽ bể vỡ lúc nào, nhất là trong một môi trường xã hội bất ổn định, tham nhũng tràn lan và hệ thống luật pháp mờ ám.
Sự tồn tại của chế độ Bắc Kinh ngày nay hoàn toàn dựa trên khả năng họ còn kiểm soát được bao lâu nữa sự bất mãn đang sôi sục của một tỷ dân quê bị bóc lột, bị tịch thu đất đai bừa bãi, của công nhân các xí nghiệp quốc doanh đóng cửa bị mất việc, bị quịt tiền lương. Mặc dầu báo chí, truyền thông bị bịt miệng, tin tức vẫn thoát ra ngoài là mỗi năm có hàng ngàn vụ nổi dậy, bạo động chống phá, của dân nghèo tại các vùng nội địa xa xôi. Hiện nay sự chống đối tuy chưa được phối hợp, chưa đủ mạnh để lật đổ chế độ, nhưng giới cầm quyền Trung Cộng hiểu rằng họ đang ngồi trên một núi lửa, như nhận định của các nhà quan sát Phương Tây.
Điều nguy hiểm, cũng theo các phân tích, là khi đạt tới địa vị một siêu cường ngang ngửa với Tây Phương, nếu chế độ bị lung lay, bị nguy cơ sụp đổ từ bên trong, thì rất có thể TQ sẽ đánh lạc hướng sự căm phẫn của nhân dân ra nước ngoài, bằng cách gây hấn với Đài Loan và các nước khác.
Hình thái Thực Dân trong Thế Kỷ 21
Trong thế Kỷ 19, các nước Tư Bản Da trắng Phương Tây đã thi hành môt phương pháp cai trị trực tiếp, tương đối đơn sơ. Như trường hợp Việt Nam, người Pháp thiết lập một guồng máy cai trị hoàn toàn do các “quan” da trắng cầm đầu, từ trung ương đến địa phương. Một vài thuộc cấp nhỏ trong bộ máy thống trị, có thể được giao cho lớp “cai” người bản xứ.
Bộ máy cai trị này hoạt động rất hữu hiệu trong hơn một thế kỷ. Nó chỉ tan rã vào giữa thế kỷ 20 khi Thế Chiến II chấm dứt. Với bộ máy này,Thực dân Da Trắng đã thu vét tài nguyên xứ thuộc địa một cách ngon lành. Độc quyền hưởng thụ, không phải chia xẻ với ai.
Cuối thế kỷ 20 sang đầu thế kỷ 21, người ta thấy xuất hiện một hình thái Thực Dân kiểu mới. Nhân dân thuộc địa tiếp tục bị bóc lột, nhưng lần này Tư Bản Da trắng không còn giữ vai trò chủ nhân mà trở thành người hùn hạp, chia chác lợi nhuận với một bộ máy cai trị Da vàng địa phương, không do họ lập ra. Bộ máy thống trị thực dân mới này do chính một nhóm người bản xứ tạo dựng, để tiếp tục khai thác nhân dân của mình. Đó là bộ máy tham nhũng khét tiếng mà có người gọi là giới Tư bản đỏ . Điển hình nhất là trường hợp Việt Nam. Hình thái Thực dân kiểu mới này còn tàn hại hơn Thực dân da trắng trước đây, đã được dư luận mô tả bằng danh từ Pháp thật tiêu biểu, gọi là “auto-colonisation”, tạm dịch là “Tự Bóc Lột”, hay là chế độ “Thực dân bản xứ ”.
Cho nên có thể nói tại Việt Nam hiện nay, chế độ thực dân chưa chấm dứt. Nguời dân Việt, sau khi đổ bao xương máu để đánh đuổi đám Thực dân Da trắng, nay lại chuốc lấy một đám Thực dân Da vàng.
Gần đây tại các nước Phương Tây, giới Tư bản đua nhau đem tiền bạc sang đầu tư tại Trung Quốc (TQ). Các xí nghiệp nối tiếp nhau sa thải công nhân hàng loạt tại Âu Châu, di chuyển sang TQ để tiếp tục sản xuất hàng hóa. Báo chí truyền thông Phuơng Tây cũng phụ họa, trầm trồ đề cao môi trường kinh tế của TQ, coi như “thiên đường” cho những cơ hội làm ăn. Đôi khi họ còn vớt vát, ngụy biện rằng phát triển kinh tế sẽ làm “thăng tiến Dân chủ” tại TQ!
Qua dư luận Phương Tây, người ta thấy tất cả như đã dấy lên một phong trào, như một cái “mốt”, ca tụng sự tăng trưởng “vượt bực” của TQ. Thậm chí có khi còn đề cao «mô hình TQ», coi như kiểu mẫu cho một đường lối phát triển mới! Họ tiên đoán chẳng mấy chốc TQ sẽ là một siêu cường, vượt xa cả Mỹ, Nhật và Âu Châu.
Tuy nhiên, vừa qua đã có những tiếng nói cất lên, phản bác lại các lập luận này, đặt nhiều nghi vấn về sự «thịnh vượng» của TQ. Đó là một số học giả, nhà báo độc lập tại Âu Châu, đã nghiên cứu tìm hiểu, và có kinh nghiệm sống lâu năm tại Trung Hoa. Họ phác họa một bức tranh tương phản, hoàn toàn chẳng lạc quan tốt đẹp. Qua nhiều bài viết, họ bật mí nhiều điều về cái huyền thoại «tăng trưởng» của TQ. Theo họ, ngay con số tăng trưởng kỳ diệu 8-9 % hàng năm, được Phương Tây nhắm mắt tin theo, cũng cần xét lại. Bởi vì chủ yếu, nó dựa theo các báo cáo, thống kê, chẳng đáng tin cậy bao nhiêu của nhà cầm quyền Bắc Kinh. Vả lại, nếu chỉ nhìn theo khía cạnh người dân Trung Hoa, từ chỗ không đủ ăn hai bữa, nay đã có chiếc xe đạp, xe máy thì họa may con số tăng trưởng 8-9% này mới có phần nào gần sự thực.
Mới đây, qua những bài viết của các tác giả tên tuổi như G. Sorman, Ph. Cohen, P. Haski …, một số sự thật đã được phơi bày. Với dân số Trung Hoa hiện nay là gần 1 tỷ 300 triệu, có khoảng 200 triệu người ở các đô thị đã có mức sống tương đối cải thiện, do sự phát triển kinh tế. Số 200 triệu người bắt đầu được sung túc này, là cái tủ kính bày hàng, trung tâm quảng cáo cho chế độ. Số 200 triệu người may mắn này, đã làm lóa mắt các khách du lịch, gây một ấn tượng lệch lạc về sự thịnh vượng của TQ, và là đề tài cho các bài báo ca ngợi ở Phương Tây. Ngoài ra, không ai biết đến còn 1 tỷ người dân quê nghèo khổ, bị bỏ quên, bị bạc đãi, tại các vùng đồng ruộng bao la hẻo lánh của Trung Quốc.Trong số một tỷ dân nghèo này, có 200 triệu kéo về các thành phố, mệnh danh là các «mingong», danh từ chỉ các “di dân lao động”. Họ sống lay lắt quanh các đô thị, chen chúc trong các khu nhà ổ chuột. Số người này, trên nguyên tắc, là những người “vô hình”, vì không hiện diện trong bất cứ báo cáo, thống kê nào của nhà nước. Họ không được phép cư trú ở thành phố vì không có “hộ khẩu”, nhưng được chính quyền “làm lơ”. Để đổi lại, họ không được khiếu nại, không được đòi hỏi quyền lợi gì. Như một tầng lớp nô lệ, sống bên lề xã hội, họ sẵn sàng bán sức lao động rẻ mạt trong các nhà máy. Cũng chính số 200 triệu “mingong” này đã là động lực, là đầu tàu kéo bộ máy kinh tế của TQ hiện nay. Họ là đầu mối sản xuất ra những mặt hàng rẻ mạt mà không một nước nào cạnh tranh nổi, đang được tung ra trên khắp các thị trường thế giới.
Những “mingong” này thiếu thốn đủ mọi thứ, là lớp người bị Tư Bản Đỏ và chính quyền bóc lột tàn bạo nhất. Bởi vì lợi nhuận cho Tư Bản đỏ và “tỷ số tăng trưởng” để chính quyền báo cáo, tỷ lệ thuận với cường độ của sự bóc lột. Điều mỉa mai là nếu có sáng kiến nào về các chi phí nhằm cải thiện đời sống của 200 triệu di dân lao động này, thì chính quyền không thể chấp nhận. Bởi vì ngay trên lý thuyết, nó đã đi ngược với cái nguyên tắc, cái “cẩm nang phát triển”, được nhà cầm quyền đề ra, là phải luôn luôn giữ giá thành lao động thật rẻ, để cạnh tranh với quốc tế.
Bộ máy cai trị Bắc Kinh còn được sự tiếp sức to lớn bằng tiền bạc của Tư bản nước ngoài đổ vào, đang tận lực khai thác triệt để và rất hữu hiệu, khối nhân lực 200 triệu “mingong” này.Tiền lợi nhuận đem lại, không bị “tiêu phí” trong việc cải thiện đời sống cho một tỷ dân quê nghèo đói, nên đã rất “thừa thãi” để tập trung vào các nhu cầu của bộ máy nhà nước. Sau khi đã thỏa mãn các túi tham nhũng trong chính quyền, nó sẽ được tiêu dùng cho việc tăng cường hệ thống công an bảo vệ chế độ, vào việc phát triển quân đội, chế tạo vũ khí, phóng người lên không gian, đưa TQ lên địa vị “siêu cuờng”, hung hăng đầy tham vọng mà Tây Phương đã tiên đoán khá đúng.
Người ta thấy rõ vì sao có nhận xét rằng Tư Bản Phương Tây đang bán sợi dây thòng lọng cho TQ. Tuy nhiên cho đến nay, nền kinh tế TQ mới chỉ đơn thuần dựa trên yếu tố nhân công rẻ mạt. Tất cả chỉ là «xưởng đặt hàng» của Thế giới. Nó chưa phải là nền kinh tế vững chắc của sự sáng tạo. Chưa có của cải vật chất làm ra do trí tuệ, do chất xám, mà chỉ là sự cóp nhặt bắt chước, hoặc chờ đợi gia công đặt hàng. Hàng hóa TQ tràn ngập thế giới, nhưng chủ yếu chỉ là những mặt hàng tiêu dùng thiết yếu bình thường, như quần áo, giày dép. Không có những mặt hàng kỹ thuật vào loại trung bình chứ chưa nói tới trình độ cao. Một con số nhỏ để so sánh: thu nhập bình quân đầu người/năm : Đài Loan: hơn 12.000 USD, gấp 10 lần TQ: dưới 1.200 USD. (Theo tài liệu Atlas économique 2005, tuần san Nouvel Observateur, Paris)
So sánh TQ với sự phát triển trước đây của các “con Rồng Châu Á”, như Nhật Bản, Đại Hàn, Đài Loan, nguời ta thấy cả một sự khác biệt cơ bản về chất lượng. Các nước này gây dựng được một nền kinh tế thịnh vượng, vững chắc, nhờ sự phát triển lành mạnh, song song hài hòa với sự thực thi Dân Chủ, với sự cải thiện đời sống của mọi tầng lớp nhân dân. Điều này, Bắc Kinh không thực hiện nổi, hoặc lơ là, không đếm xỉa đến những nhu cầu sơ đẳng nhất của người dân, như vệ sinh y tế, chủng ngừa... Người ta chưa quên những vụ bê bối gần đây, đã bị báo chí quốc tế phanh phui. Như vụ chính quyền ém nhẹm khi bệnh viêm phổi SARS bột phát. Như vụ dân nghèo phải bán máu kiếm ăn, khiến bệnh AIDS lan tràn. Các nhà phân tích nhận định rằng nền kinh tế Trung Cộng chỉ là sự “phồn vinh giả tạo”, sẽ bấp bênh, không vững vàng. Nó được thổi phồng lên như “ trái bong bóng” và chưa biết sẽ bể vỡ lúc nào, nhất là trong một môi trường xã hội bất ổn định, tham nhũng tràn lan và hệ thống luật pháp mờ ám.
Sự tồn tại của chế độ Bắc Kinh ngày nay hoàn toàn dựa trên khả năng họ còn kiểm soát được bao lâu nữa sự bất mãn đang sôi sục của một tỷ dân quê bị bóc lột, bị tịch thu đất đai bừa bãi, của công nhân các xí nghiệp quốc doanh đóng cửa bị mất việc, bị quịt tiền lương. Mặc dầu báo chí, truyền thông bị bịt miệng, tin tức vẫn thoát ra ngoài là mỗi năm có hàng ngàn vụ nổi dậy, bạo động chống phá, của dân nghèo tại các vùng nội địa xa xôi. Hiện nay sự chống đối tuy chưa được phối hợp, chưa đủ mạnh để lật đổ chế độ, nhưng giới cầm quyền Trung Cộng hiểu rằng họ đang ngồi trên một núi lửa, như nhận định của các nhà quan sát Phương Tây.
Điều nguy hiểm, cũng theo các phân tích, là khi đạt tới địa vị một siêu cường ngang ngửa với Tây Phương, nếu chế độ bị lung lay, bị nguy cơ sụp đổ từ bên trong, thì rất có thể TQ sẽ đánh lạc hướng sự căm phẫn của nhân dân ra nước ngoài, bằng cách gây hấn với Đài Loan và các nước khác.
Hình thái Thực Dân trong Thế Kỷ 21
Trong thế Kỷ 19, các nước Tư Bản Da trắng Phương Tây đã thi hành môt phương pháp cai trị trực tiếp, tương đối đơn sơ. Như trường hợp Việt Nam, người Pháp thiết lập một guồng máy cai trị hoàn toàn do các “quan” da trắng cầm đầu, từ trung ương đến địa phương. Một vài thuộc cấp nhỏ trong bộ máy thống trị, có thể được giao cho lớp “cai” người bản xứ.
Bộ máy cai trị này hoạt động rất hữu hiệu trong hơn một thế kỷ. Nó chỉ tan rã vào giữa thế kỷ 20 khi Thế Chiến II chấm dứt. Với bộ máy này,Thực dân Da Trắng đã thu vét tài nguyên xứ thuộc địa một cách ngon lành. Độc quyền hưởng thụ, không phải chia xẻ với ai.
Cuối thế kỷ 20 sang đầu thế kỷ 21, người ta thấy xuất hiện một hình thái Thực Dân kiểu mới. Nhân dân thuộc địa tiếp tục bị bóc lột, nhưng lần này Tư Bản Da trắng không còn giữ vai trò chủ nhân mà trở thành người hùn hạp, chia chác lợi nhuận với một bộ máy cai trị Da vàng địa phương, không do họ lập ra. Bộ máy thống trị thực dân mới này do chính một nhóm người bản xứ tạo dựng, để tiếp tục khai thác nhân dân của mình. Đó là bộ máy tham nhũng khét tiếng mà có người gọi là giới Tư bản đỏ . Điển hình nhất là trường hợp Việt Nam. Hình thái Thực dân kiểu mới này còn tàn hại hơn Thực dân da trắng trước đây, đã được dư luận mô tả bằng danh từ Pháp thật tiêu biểu, gọi là “auto-colonisation”, tạm dịch là “Tự Bóc Lột”, hay là chế độ “Thực dân bản xứ ”.
Cho nên có thể nói tại Việt Nam hiện nay, chế độ thực dân chưa chấm dứt. Nguời dân Việt, sau khi đổ bao xương máu để đánh đuổi đám Thực dân Da trắng, nay lại chuốc lấy một đám Thực dân Da vàng.